CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE XÁC MINH DIEU KIỆN THI HANH AN DAN SU THEO PHAP LUAT VIET NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án dân sự 1. Khái niệm về xác minh điều kiện thi hành án dân sự Khái niém thi hành án dân sự Theo từ dién tiếng Việt, "thi hành" có nghĩa là làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định [40]. Như vậy, có thể định nghĩa thi hành án là việc đưa các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án ra thi hành.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về THADS. Ý kiến thứ nhất cho rằng: THADS là một dạng của hoạt động hành chính bởi THA là một dạng hoạt động mang tính điều hành và chấp hành, đây là đặc điểm đặc trưng của hoạt động hành chính [42]. Ý kiến thứ hai: THA là một dạng của hoạt động hành chính - Tư pháp vì THADS là hoạt động mang tính chất chấp hành và điều hành quyết định của Tòa án. Mặt khác, trong quá trình THA còn tiến hành các hoạt động mang tính hành chính như ủy quyên thi hành án dân sự, chứng thực bản sao giấy tờ.
Hoạt động xét xử của Tòa án và THADS là hai giai đoạn nối tiếp nhau không cắt khúc và gián đoạn, do đó luôn luôn có sự gắn kết liên thông giữa Tòa án đã ra bản án, quyết định đó bằng việc giao cho Tòa án ra quyết định thi hành án. Cơ quan thi hành án tổ chức thi hành theo quyết định thi hành án của Tòa án [42]. Ý kiến thứ ba cho rằng, THADS là một dạng của hoạt động tư pháp vì THADS gắn liền với hoạt động xét xử và do cơ quan Tư pháp có thâm quyên tổ chức thực hiện [42]. Do vậy việc xác định ban chất THADS còn là một van dé còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn.
Từ thực tiễn công tác cho thay THADS là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tư pháp bởi các lý do sau: Thứ nhất, bản chất của THA là một dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các biện pháp và cách thức khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trong thực tế đó là mục đích của THA, chứ không phải là ra văn ban áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành, nét đặc trưng của hoạt động hành chính. Thứ hai, THA và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau. Việc THA sẽ dé dàng, nhanh chóng nếu ban án, quyết định của Tòa án tuyên rõ ràng, cụ thể.
Ngược lại, việc THA sẽ khó khăn nếu bản án, quyết định đó không rõ ràng, không khách quan, thiếu tính khả thi. Đồng thời việc THA nhanh chóng, kip thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, góp phần củng có, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử. Thứ ba, THADS có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó, là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử. Tuy nhiên, THA lại có tính độc lập tương đối thé hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng co quan THADS đối với THADS.
Tính quyết định này mang tính chất bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến THA. Thứ tu, cơ sở của hoạt động THA là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án; các quyết định của Trọng tài Thương mại; các quyết định về giải quyết vụ việc cạnh tranh; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng). Với cách hiểu về THADS như trên thì khái niệm “thi hành án dân sự” được hiểu là toàn bộ các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền được tiễn hành theo một trình tự nhất định để đưa một bản án, quyết định cua Tòa án, Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh cua Chủ tịch uy ban cạnh tranh Quốc gia ra thi hành theo quy định của pháp luật. Quá trình THADS bắt đầu từ khi tòa án cấp bản án, quyết định, cơ quan THA tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu THA, ra quyết định THA và tiễn hành các tác nghiệp cụ thé cho đến khi quyền và nghĩa vụ của đương sự được thi hành trên thực tế.
Trong quá trình THA, tùy từng vụ việc cụ thé mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án, CHV hoặc thừa phat lại có thể thực hiện các trình tư, thủ tục cần thiết khác nhau đề tổ chức THA. Khái niệm về xác minh điều kiện thi hành án dân sự Theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam do Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1998 thì “xác minh” được hiểu là làm cho rõ với chứng cứ cụ thể [28, tr. Còn theo Đại Từ điển Tiếng Việt do nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản năm 1998 thì “xác minh” được hiểu là làm rõ thực chất sự việc với những chứng cứ cụ thể [47, tr. Như vậy có thé hiểu “xác minh” là việc đi tìm các tài liệu, chứng cứ dé tìm hiểu, làm rõ một hoặc nhiều vấn đề nào đó.
Xác minh được tiến hành bởi chủ thê nhất định, tùy theo yêu cầu và mục dich của van đề cần được xác minh mà chủ thể tiến hành xác minh là chủ thé nào. Cũng theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì “điều kiện” là điều cần thiết phải có để đạt được mục đích [28, tr. Còn theo đại từ điển Tiếng Việt thì “điều kiện” là điều cần phải có dé có thé thực hiện được, dat được mục đích [47, tr. Luật THADS không đưa ra khái niệm xác minh điều kiện thi hành án, nhưng vấn đề này đã được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành tương đối cụ thé.
Trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về THA đã được công bô nêu trên cũng chỉ đê cập đên những vân đê thuộc vê nội 10 dung, chủ thể và một vài thủ tục của xác minh điều kiện THADS mà chưa đưa ra định nghĩa, khái niệm về “xác minh điều kiện thi hành án”. Từ những phân tích trên có thé đi đến kết luận về xác minh điều kiện thi hành án như sau: “Xác minh điều kiện thi hành án là việc Chấp hành viên, Thừa phát lại hoặc người được thi hành án tiễn hành thu thập các chứng cứ, tài liệu VỀ tài sản, thu nhập của người phải thi hành an để làm căn cứ tổ chức THADS theo quy định của pháp luật”. Đặc điểm xác minh điều kiện thi hành án dân sự Quá trình THADS phải thực hiện nhiều trình tự, thủ tục và trải qua nhiều giai đoạn thi hành án, trong đó xác minh điều kiện thi hành án là một trong những thủ tục có vai trò quan trọng nhất, xác minh điều kiện THADS có đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, việc xác minh điều kiện THADS do các chủ thé sau đây thực hiện: Chấp hành viên, người được thi hành án hoặc Thừa phát lại. Nghĩa vụ làm rõ điều kiện THA của người phải THA trước hết là của người được THA bởi họ là một trong những người đưa ra yêu cầu THADS.
Tuy vậy, trong những trường hợp cơ quan THADS chủ động THA hay trong những trường hợp người được THA không thé xác minh điều kiện THADS của người phải THA được thì CHV cơ quan THADS phải tiến hành xác minh THA. Ngoài ra, Thừa phát lại cũng được tô chức THA khi đương sự yêu cầu. Vì vậy, tương ứng với ba trường hợp này là ba chủ thể thực hiện việc xác minh điều kiện THADS, cụ thể là: Người được thi hành án thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trong trường hợp THA theo đơn yêu cầu. Người được THA có thê tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án.
Chấp hành viên trực tiếp thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án 11 trong trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án hoặc theo yêu cầu của người được thi hành án sau khi họ đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự mình xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành ná hoặc khi không đồng ý với kết quả xác minh của người được thi hành án. Thừa phát lại thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án trong hai trường hợp có yêu cầu của đương sự: khi ký hợp đồng dịch vụ tổ chức THADS hoặc hợp đồng dịch vụ xác minh điều kiện THADS. Hiện nay, VỚI chủ trương xã hội hóa một số hoạt động thi hành án và thực hiện chế định thừa phát lại thì Thừa phát lại có quyên tô chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án, xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự. Vì vậy, trong trường hợp đương sự có yêu cầu thì Thừa phát lại sẽ thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án.
Thứ hai, về nội dung xác minh điều kiện thi hành án chủ yếu là làm rõ thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án. Các nghĩa vụ thi hành án dân sự phần lớn là nghĩa vụ về tài sản. Vì vậy, trừ những trường hợp đặc biệt cần xác minh về nhân thân, thái độ của người phải thi hành án dan sự để thi hành nghĩa vụ bắt buộc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định thì nội dung chủ yếu của việc xác minh là làm rõ thông tin về thu nhập là gì, được bao nhiêu?, tài sản của người phải thi hành án có những gì? Số lượng và chủng loại cụ thể? Tài sản của người phải thi hành án do họ quản lý hay do người khác quản lý? Tài sản vô hình hay tài sản hữu hình? Tài sản hiện có hay tài sản được hình thành trong tương lai. Thứ ba,việc xác minh điều kiện THADS được thực hiện tại nhiều thời điểm, nhiều địa điểm trong quá trình THA.
Việc xác minh điều kiện THADS được thực hiện tại nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình THA.