Chương 1 THỪA KẾ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT THỪA KẾ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân, tổ chức. Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản (quyền của người để lại di sản) và chủ thể hưởng thừa kế di sản (quyền của người nhận di sản). Quyền thừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng thừa kế di sản (và chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc).
Khi xem xét về vấn đề thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề được quan tâm trước tiên. Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứ khác. Chỉ khi di sản còn tồn tại trên thực tế thì người lập di chúc mới có “cái” để định đoạt. Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi.
Người có hay không có năng lực hành vi hoặc người có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền hưởng di sản thừa kế. Trong trường hợp này, người giám hộ sẽ thực hiện giúp những người này các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi di sản họ được hưởng. Khi nhà nước ra đời, mỗi nhà nước đều sử dụng một công cụ hữu ích để quản lý xã hội là pháp luật. Là một quan hệ ra đời và tồn tại từ rất lâu trong đời sống xã hội, thừa kế đã được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự, một ngành luật điều chỉnh mối quan hệ về tài sản giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý.
Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Đối tượng của thừa kế là các tài sản thuộc quyền của người đã chết để lại (trong một số trường hợp người để lại tài sản có thể chỉ để lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản.
Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A có hợp đồng thuê quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn B với thời hạn là 10 năm (từ năm 2005 đến năm 2015) để trồng cây ăn quả. Đến năm 2012 thì ông A qua đời. Các con của ông A là C, D, E được thừa kế hoa lợi phát sinh từ việc trồng cây ăn quả của ông chứ không được thừa kế quyền sử dụng đất để trồng cây ăn quả đó). Nhìn nhận một cách tổng quan nhất thì “thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống” [34].
Về mặt ngữ nghĩa thì thừa kế là thừa hưởng một cách kế tục. Theo phương diện này, Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho” [34]. Về mặt nội dung thì thừa kế là quá trình dịch chuyển di sản từ người chết cho người còn sống. Quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống được hình thành ở bất cứ một xã hội nào và dĩ nhiên, khi chưa có Nhà nước và pháp luật, thì nó được thực hiện theo tập tục xã hội nên được gọi là thừa kế.
Khi Nhà nước xuất hiện, bằng pháp luật, nhà nước tác động đến quá trình dịch chuyển tài sản nói trên, trong đó, quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di sản của các chủ thể được nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật nên từ đó, quá trình dịch chuyển di sản được gọi là quyền thừa kế. Nói cách khác, khái niệm quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của nó là xác định phạm vi các quyền, các nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế. Quyền thừa kế chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội đã có giai cấp và Nhà nước. Bên cạnh nội dung kinh tế, quyền thừa kế còn bao hàm ý chí của Nhà nước.
Nghĩa là, việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống phải hoàn toàn tuân thủ các quy định của pháp luật. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi chưa xuất hiện Nhà nước, thừa kế được dịch chuyển theo phong tục, tập quán của các thị tộc, bộ lạc, thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của Nhà nước. Giai cấp thống trị thông qua quyền lực nhà nước để áp dụng các phương pháp cưỡng chế nhằm tác động đến các quan hệ xã hội làm cho các quan hệ đó phát sinh, phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp mình. Nghĩa là khi có Nhà nước thì mọi quan hệ cũng như mọi sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội đều được pháp luật điều chỉnh.
Thừa kế trong xã hội đã có nhà nước cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật. Vì thế, có thể nói rằng: khái niệm quyền thừa kế được xuất hiện và chỉ xuất hiện chừng nào có sự xuất hiện nhà nước và pháp luật. Khi xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có Nhà nước và pháp luật thì đã có khái niệm về thừa kế. Nhưng chỉ khi xã hội đã phân chia giai cấp và có Nhà nước thì khái niệm về quyền thừa kế mới ra đời.
Nhà nước quy định quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa kế của các chủ thể qua việc ban hành các văn bản pháp luật để quy định trình tự và các điều kiện dịch chuyển tài sản cũng như quy định các phương thức dịch chuyển tài sản từ người đã chết cho người còn sống khác. Quyền thừa kế sẽ được quy định các nhau trong mỗi chế độ xã hội khác nhau. Ở từng giai đoạn khác nhau trong một chế độ xã hội thì quyền thừa kế cũng được quy định khác nhau. Chế độ thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của một Nhà nước.
Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của chế độ xã hội, pháp luật cũng có quy định khác nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế. Sự thay đổi đó được thể hiện thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Các quy phạm này không những phụ thuộc vào sự thay đổi của quan hệ sở hữu trong các chế độ xã hội khác nhau, mà còn phụ thuộc vào mức độ phát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là quan hệ pháp luật về thừa 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kế có sự biến đổi. Quan hệ thừa kế thể hiện rõ nét sự phát triển kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.
Khi đó quan hệ thừa kế không những là phạm trù pháp luật, mà còn được hiểu như là một phạm trù lịch sử. Như những phân tích ở trên, có thể nói rằng, quan hệ thừa kế là một phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nói riêng. Pháp luật về thừa kế xác định quyền thừa kế là quyền của cá nhân trong việc để lại di sản và quyền của những người nhận di sản thừa kế để điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế. Như đã lập luận ở trên thì quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật phát sinh từ sự kiện chết của một cá nhân (chủ sở hữu tài sản) và khi có người thừa kế thực hiện quyền thừa kế của họ, khi đó tài sản và quyền sở hữu tài sản (di sản) của người chết được chuyển giao cho cá nhân hoặc tổ chức, gọi chung là người thừa kế.
Thừa kế là quan hệ tài sản có tính đặc thù. Tính đặc thù được thể hiện như sau: trong các quan hệ dân sự khác, khi xác lập giao dịch các bên chủ thể đều còn sống và ý chí của các bên được thể hiện đồng thời, còn quan hệ thừa kế di sản chỉ phát sinh khi bên có tài sản chết hoặc được xác định là đã chết. Vậy, thừa kế được hiểu là "sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống". Quyền thừa kế cần được hiểu theo hai phương diện: khách quan và chủ quan: - Quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản (di sản) của người chết cho người còn sống.
Đây là phương diện khách quan. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự cơ bản của công dân được để lại tài sản của mình cho những người còn sống và quyền của công dân được nhận di sản theo sự định đoạt của người có tài sản (bằng di chúc) hoặc theo một trình tự và thủ tục pháp luật nhất định (thừa kế theo pháp luật). Đây là phương diện chủ quan. Sự chuyển dịch di sản của người chết cho người còn sống theo mối quan hệ ràng buộc về huyết thống, gia đình hay thân thuộc giữa người có tài sản để lại sau khi họ chết và người nhận di sản gọi là thừa kế theo pháp luật.
Nếu họ không thực hiện quyền định đoạt bằng việc lập di chúc hoặc tuy có lập di chúc, song việc định đoạt đó bị hạn chế bởi pháp luật hay di chúc họ lập ra không có hiệu lực theo quy định của pháp luật thì việc quy định vấn đề thừa kế theo pháp luật là để bảo đảm quyền của người có tài sản được để lại tài sản của họ sau khi chết. Thừa kế theo pháp luật về bản chất là bảo vệ quyền của những người có quan hệ huyết thống, gia đình hay thân thuộc với người có tài sản khi người này chết. Quan hệ thừa kế hay thừa kế là quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn. Tương tự như vậy, quyền thừa kế hay quan hệ pháp luật về thừa kế là quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống khi đã có sự tác động của pháp luật.