Luận Văn Tốt Nghiệp Về Thừa Kế Theo Pháp Luật: Lý Luận và Thực Tiễn

Tổng hợp kiến thức Thừa Kế Theo Pháp Luật: Vấn Đề Lý Luận và Thực Tiễn, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong luật

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

1.1. Các giai đoạn phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế

1.2. Quy định về thừa kế theo pháp luật trong Luật Hồng Đức

1.3. Quy định về thừa kế theo pháp luật trong Luật Gia Long

1.4. Quy định về thừa kế theo pháp luật dưới thời Pháp thuộc

1.5. Từ năm 1945 đến nay

1.6. Điểm giống nhau giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

1.7. Điểm khác nhau giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát chung về thừa kế theo pháp luật

Chương này tập trung vào việc phân tích thừa kế theo pháp luật tại Việt Nam, từ những quy định lịch sử đến hiện tại. Thừa kế theo pháp luật được hiểu là hình thức chuyển giao tài sản từ người đã mất cho những người còn sống, khi không có di chúc hợp lệ. Các quy định về quyền thừa kế đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ thời phong kiến đến hiện đại. Đặc biệt, Bộ luật Dân sự 2015 đã khẳng định rõ ràng quyền lợi của các bên liên quan trong việc chia di sản. Việc nghiên cứu các quy định này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về di sản mà còn về nguyên tắc thừa kế trong xã hội hiện đại.

1.1. Các giai đoạn phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế

Pháp luật về thừa kế tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn, từ các bộ luật phong kiến như Luật Hồng Đức đến các quy định hiện hành trong Bộ luật Dân sự 2015. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng, phản ánh sự thay đổi trong tư duy pháp lý và xã hội. Luật Hồng Đức quy định rõ ràng về quyền thừa kế của con cái, trong khi Luật Gia Long lại thể hiện tư tưởng trọng nam khinh nữ. Sau năm 1945, các quy định về thừa kế theo pháp luật đã được cải cách mạnh mẽ, bảo vệ quyền lợi của công dân, đặc biệt là quyền thừa kế của phụ nữ và trẻ em. Điều này cho thấy sự tiến bộ trong việc công nhận quyền thừa kế của mọi thành viên trong gia đình.

II. Nội dung pháp lý cơ bản về thừa kế theo pháp luật

Chương này phân tích các quy định pháp lý cơ bản liên quan đến thừa kế theo pháp luật. Các quy định này bao gồm hàng thừa kế, quyền thừa kế của các thành viên trong gia đình, và các trường hợp thừa kế thế vị. Theo Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế được chia thành ba hàng: hàng thứ nhất bao gồm cha mẹ, vợ chồng, con cái; hàng thứ hai là ông bà, anh chị em; và hàng thứ ba là các cụ nội, ngoại. Điều này thể hiện sự công bằng trong việc phân chia di sản và bảo vệ quyền lợi của những người thân trong gia đình. Việc hiểu rõ các quy định này là rất quan trọng để tránh xảy ra tranh chấp thừa kế.

2.1. Hàng thừa kế theo pháp luật

Hàng thừa kế theo pháp luật được quy định rõ ràng trong Bộ luật Dân sự 2015. Hàng thứ nhất bao gồm những người có quan hệ huyết thống trực tiếp với người để lại di sản. Điều này đảm bảo rằng những người gần gũi nhất với người đã mất sẽ được ưu tiên trong việc nhận thừa kế. Hàng thứ hai và thứ ba cũng được quy định cụ thể, giúp xác định rõ ràng quyền lợi của từng thành viên trong gia đình. Việc phân chia này không chỉ mang tính pháp lý mà còn thể hiện giá trị văn hóa và truyền thống của người Việt Nam trong việc bảo vệ quyền thừa kế.

III. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện những quy định về thừa kế theo pháp luật

Chương này tập trung vào việc phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật và những vấn đề còn tồn tại. Mặc dù pháp luật đã có những quy định rõ ràng, nhưng trong thực tế, vẫn còn nhiều tranh chấp thừa kế xảy ra do sự thiếu hiểu biết hoặc không đồng thuận giữa các bên liên quan. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thừa kế sẽ được đưa ra, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và giảm thiểu các tranh chấp. Việc hoàn thiện này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng hơn.

3.1. Một số vấn đề còn tồn tại trong các quy định về thừa kế theo pháp luật

Trong thực tiễn, nhiều quy định về thừa kế theo pháp luật vẫn còn thiếu sót, dẫn đến những tranh chấp thừa kế phức tạp. Một số quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng. Ví dụ, việc xác định người thừa kế trong trường hợp không có di chúc vẫn còn nhiều bất cập. Ngoài ra, sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật cũng gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp. Do đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện các quy định này, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 1. Các giai đoạn phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế Chế định thừa kế nói chung và hình thức thừa kế theo pháp luật nói riêng được quy định trong BLDS là sự kế thừa và phát triển các quy định chung về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến nay. Ở mỗi thời kỳ đều có những đặc thù riêng. Việc nghiên cứu, phân tích tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật thừa kế hiện nay.Trước năm 1945 Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua nhiều thế kỉ.

Mỗi nhà nước phong kiến đều ban hành văn bản pháp luật để củng cố quyền lực và phục vụ cho công việc quản lý đất nước. Đáng chú ý là các bộ luật của các triều đại phong kiến như bộ luật Hồng Đức năm 1483, Bộ luật Gia Long năm 1815. Ngoài bộ luật các nhà nước phong kiến còn ban hành nhiều văn bản đơn hành như chiếu, chỉ dụ , lệnh của vua… Nội dung các bộ luật điều chỉnh nhiều qua hệ xã hội thuộc đối tượng của nhiều ngành luật hiện nay. Trong đó có các quy định về thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.

* Quy định về thừa kế theo pháp luật trong Luật Hồng Đức Trong thời kỳ phong kiến, Luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc triều hình luật được ban hành năm 1483 được coi là một trong những bộ luật phong kiến tiến bộ nhất và đặc sắc nhất trong lịch sử pháp luật Việt Nam đồng thời là bộ luật có niên đại xưa nhất còn giữ được cho tới ngày nay. Bộ luật đánh dấu thời kỳ hoàng kim nhất, rực rỡ nhất của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều đại nhà Lê, đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông. Những người thừa kế theo pháp luật gồm người có quan hệ huyết thống trực hệ với người để lại di sản. Căn cứ theo quy định tại Điều 374, 375, 376 thì di sản sẽ được chia theo nguyên tắc ưu tiên, trước hết là chia cho các con, không phân biệt con trai, con gái (hàng 1), nếu người chết không có con thì cha mẹ (hàng 2) được hưởng di sản thừa kế.

Trường hợp không còn cha mẹ, di sản được chuyển cho người thừa tự, do họ hàng quyết định Luật Hồng Đức ghi nhận con nuôi cũng có quyền thừa kế di sản của cha mẹ nuôi trong trường hợp "có văn tự là con nuôi và ghi trong giấy rằng sau sẽ chia điền sản cho, khi cha mẹ nuôi chết không có chúc thư, điền sản đem chia cho con đẻ và con nuôi" và phần di sản 3 Luan van được hưởng là "điền sản chia làm ba, con đẻ được hai phần, con nuôi được một phần; nếu không có con đẻ mà con nuôi cùng ở với cha mẹ từ thuở bé, thì được cả; thuở bé không cùng ở thì con nuôi được hai phần, người thừa tự được một phần" Luật Hồng Đức quy định vợ, chồng không được thừa kế di sản của nhau ngoại trừ một số trường hợp để đảm bảo cho cuộc sống của người vợ góa, chồng góa, chẳng hạn như trường hợp người vợ góa, chồng góa sống độc thân không có người nuôi dưỡng sẽ được hưởng một phần di sản của người chồng hoặc người vợ để sống hết đời và để thờ cúng. Tuy nhiên, nếu người vợ góa, chồng góa tái giá thì phải trả lại phần di sản được hưởng cho họ hàng của người chết. Theo Điều 390 Luật Hồng Đức "cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em chị em tự chia nhau, thì lấy một phần 20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho con trai trưởng giữ…" Quy định về thừa kế, đặc biệt là thừa kế theo pháp luật trong Luật Hồng Đức là cơ sở để bảo vệ quan hệ trên dưới, tôn ti, trật tự của gia đình truyền thống đồng thời bảo vệ được quyền thừa kế của những người thừa kế. * Quy định về thừa kế theo pháp luật trong Luật Gia Long Hoàng Việt luật lệ hay còn được biết đến với tên gọi Quốc triều điều luật, Hoàng triều luật lệ, Luật Gia Long, là bộ luật chính thống của triều Nguyễn ở Việt Nam do vua Gia Long ban hành năm 1815.

Với tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" đặc trưng của xã hội phong kiến, Luật Gia Long quy định di sản chia theo pháp luật sẽ được chia đều cho các con trai không phân biệt con trai do thê thiếp sinh ra. Nếu người con chết thì con của người con sẽ thay thế vị trí của cha mẹ mình để nhận di sản của ông bà. Vì con gái không được quyền thừa kế nên trong trường hợp người để lại di sản không có con trai thì các cháu trai thúc bá sẽ được hưởng di sản Luật Gia Long cũng quy định vợ góa, chồng góa không được thừa kế di sản của người chồng hoặc người vợ đã chết trừ trường hợp ngoại lệ tương tự như quy định trong Luật Hồng Đức. Đối với di sản dùng làm hương hỏa, khác với Luật Hồng Đức, theo quy định của Luật Gia Long thì không bắt buộc phải dành một phần di sản làm hương hỏa.

 * Quy định về thừa kế theo pháp luật dưới thời Pháp thuộc Chế định thừa kế trong Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Dân luật Trung Kỳ năm 1936 được quy định tương đối giống nhau, được xây dựng dựa trên BLDS Pháp 1804. Theo đó, thừa kế cũng được chia thành hai hình thức là thừa kế theo di chúc 4 Luan van và thừa kế theo pháp luật. Di sản được chia theo pháp luật khi không có chúc thư hoặc chúc thư vô hiệu và được chia theo thứ tự ưu tiên. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản ngang nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không có ai ở hàng thừa kế trước. Người thừa kế hàng thứ nhất là các con. Con trai, con gái được chia di sản bằng nhau. Nếu cha hoặc mẹ chết trước hoặc chết cùng ông bà nội hoặc ông bà ngoại, thì các cháu thay thế cha hoặc mẹ nhận di sản của ông hoặc bà (thừa kế thế vị).

Trong trường hợp người chết không có con thì di sản chia cho cha, mẹ (hàng thừa kế thứ hai). Nếu không còn cha, mẹ thì di sản chia cho cháu ruột bên nội. Nếu không có cháu ruột thì chia cho anh, chị em ruột.Từ năm 1945 đến nay Sau cách mạng tháng Tám Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Một nhà nước non trẻ đã phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp về chính trị, văn hóa, xã hội…Nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước lúc này là bảo vệ, củng cố thành quả cách mạng, kể các những vấn đề liên quan đến lĩnh vực dân sự.Ngày 22/05/1950 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 97/SL về việc sửu đổi một số quy lệ chế định trong dân luật, quy định một số nguyên tắc mới để áp dụng trong điều kiện nền dân chủ nước ta.

Riêng trong lĩnh vực thừa kế đã quy định vợ , chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau, con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha, mẹ, chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia di sản, con cháu, hoặc vợ góa, chồng góa không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đã chết, các chủ nợ của người chết không có quyền đòi người thừa kế phải thanh toán nợ quá phần di sản mà người đó nhận. Hiến pháp năm 1959 đã công nhận vấn đề thừa kế thành nguyên tắc tại Điều 19 như sau: “ Nhà nước chiếu theo pháp luật, bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định” Các con đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa kế, không phân biệt con trai, con gái, con ngoài giá thú,con đẻ, con nuôi” Hiến pháp năm 1980 ghi nhận “ Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản công dân” ( Điều 27).Để phục vụ cho công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 ngày 24/07/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế( di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, theo kế theo pháp luật, phân chia di sản…). Mặc dù là văn bản pháp lý đầu tiên quy định khá chi tiết về thừa kế kể từ sau Cách mạng Tháng Tám nhưng Thông tư số 81 vẫn còn có những hạn chế nhất định, chẳng hạn như việc chỉ quy định hai hàng thừa kế đã thu hẹp diện thừa kế, 5 Luan van chưa thật sự đảm bảo được quyền hưởng di sản của những người thân của người để lại di sản.

Quy định các trường hợp không được hưởng thừa kế theo pháp luật cũng chưa đầy đủ… Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có một văn bản vừa có nội dung toàn diện, vừa có tính pháp lý, thực thi cao. Tiếp đó Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 1986 đã quy định một số điều liên quan đến quyền thừa kế của vợ, chồng ( Điều 14, Điều 16, Điều 17.) Để phù hợp với sự biến đổi, phát triển của kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như nhằm khắc phục những nội dung còn thiếu, còn vướng mắc, ngày 30/08/1990, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh Thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10/09/1990. Nội dung của Pháp lệnh Thừa kế đã mở rộng phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh Thừa kế thì những người thừa kế theo pháp luật được chia làm ba hàng: Hàng thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Hàng thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết.

Hàng thứ ba: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột. Quy định trên đã bảo vệ được tối đa quyền của người để lại di sản cũng như quyền của những người thừa kế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Văn Tốt Nghiệp Về Thừa Kế Theo Pháp Luật: Lý Luận và Thực Tiễn" của tác giả Nguyễn Thị Giang, dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thanh Lan, thuộc Trường Đại Học Quản Lý Và Công Nghệ Hải Phòng, năm 2021, khám phá các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thừa kế theo pháp luật. Bài luận không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý hiện hành mà còn phân tích những thách thức và thực tiễn áp dụng trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ trong việc thừa kế, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh pháp lý khác liên quan đến thừa kế và tài sản, hãy tham khảo thêm bài viết "Khám Phá Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Trong Luận Văn Thạc Sĩ Luật", nơi bàn về giá trị pháp lý của các văn bản công chứng, một yếu tố quan trọng trong việc xác định quyền thừa kế.

Ngoài ra, bài viết "Tìm Hiểu Pháp Luật về Hộ Kinh Doanh ở Việt Nam" cũng có thể cung cấp cho bạn cái nhìn về các quy định pháp lý liên quan đến tài sản và quyền lợi trong kinh doanh, điều này có thể liên quan đến việc thừa kế tài sản trong bối cảnh kinh doanh.

Cuối cùng, bài viết "Kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam hiện nay: Thực trạng và hướng hoàn thiện" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý trong lĩnh vực lao động, một khía cạnh có thể ảnh hưởng đến quyền lợi thừa kế trong các trường hợp liên quan đến tài sản của người lao động.

Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề pháp lý liên quan đến thừa kế và tài sản, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.