Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định thừa kế là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm và giữ vị trí trung tâm trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Từ các bộ luật cổ thời kỳ phong kiến như Bộ luật Hồng Đức (1483), Bộ luật Gia Long (1815), đến thời kỳ Pháp thuộc với Bộ Dân luật Bắc kỳ (1931), Bộ Dân luật Trung kỳ (1936), và các văn bản lập pháp thời kỳ hiện đại gồm Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, BLDS năm 2005 cho đến BLDS năm 2015, các quy phạm điều chỉnh quan hệ thừa kế liên tục được hoàn thiện nhằm phản ánh sự biến chuyển của quan hệ sở hữu và kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các giao lưu dân sự và gia tăng khối lượng tài sản tích lũy trong xã hội, các quan hệ thừa kế ngày càng phát sinh nhiều mối liên hệ phức tạp. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các tranh chấp dân sự liên quan đến phân chia di sản thừa kế có chiều hướng gia tăng rõ rệt về số lượng và mức độ phức tạp. Một số quy định của BLDS năm 2015 về phân chia di sản thừa kế vẫn còn bộc lộ những điểm chưa cụ thể, chưa dự liệu hết các tình huống đa dạng của đời sống xã hội, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán và các tổ chức hành nghề công chứng. Từ thực tế đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài "Phân chia di sản thừa kế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Làm sáng tỏ hệ thống lý luận chung về di sản, di sản thừa kế, phân loại di sản và các căn cứ phân chia di sản thừa kế.
  2. Phân tích chi tiết các quy định của pháp luật dân sự hiện hành (trọng tâm là BLDS năm 2015) điều chỉnh hoạt động phân chia di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.
  3. Chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và bất cập giữa quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng.
  4. Đề xuất các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn đời sống.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh quan hệ phân chia di sản thừa kế và thực tiễn áp dụng các quy định này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống quy định pháp luật dân sự Việt Nam về phân chia di sản thừa kế, có liên hệ với lịch sử lập pháp và các văn bản hướng dẫn áp dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về chế độ sở hữu tài sản và quyền thừa kế của công dân.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều khoản trọng tâm: Điều 105, Điều 612, Điều 620, Điều 621, Điều 630, Điều 644, Điều 645, Điều 646, Điều 651, Điều 656, Điều 658, Điều 659, Điều 660);
  • Luật Công chứng năm 2014 (Điều 57);
  • Các văn bản pháp luật dân sự trong lịch sử: Bộ luật Hồng Đức (1483), Bộ luật Gia Long (1815), Bộ Dân luật Bắc kỳ (1931), Bộ Dân luật Trung kỳ (1936), Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Bộ Dân luật năm 1972, Hiến pháp năm 1980, Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981, Hiến pháp năm 1992, BLDS năm 1995, BLDS năm 2005.

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét sự hình thành và phát triển của chế định thừa kế gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội qua từng giai đoạn lịch sử của Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các khái niệm, quy phạm pháp luật, cấu trúc các điều luật và tổng hợp thành các quy tắc, công thức tính toán di sản.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của các bộ luật qua các thời kỳ lịch sử và so sánh các quy định nội tại giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
  • Phương pháp lôgíc: Hệ thống hóa các trường hợp phân chia di sản, xác định thứ tự ưu tiên thanh toán và phương thức giải quyết tranh chấp.

Nguồn dữ liệu tham khảo của đề tài kế thừa từ các công trình nghiên cứu của các học giả chuyên ngành luật dân sự (như PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn, TS. Phạm Văn Tuyết, TS. Phùng Trung Tập, TS. Trần Thị Huệ, ThS. Nguyễn Đào Tơ, ThS. Nguyễn Nhật Huy...) cùng các bài nghiên cứu chuyên đề trên Tạp chí Tòa án nhân dân và Tạp chí Nghề Luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về phân chia di sản thừa kế

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng và quá trình tiến hóa của chế định di sản thừa kế trong lịch sử pháp luật Việt Nam.

Tác giả phân tích khái niệm di sản từ góc độ ngôn ngữ học (theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý) và góc độ khoa học pháp lý. Theo Điều 612 BLDS năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Khoa học pháp lý tồn tại hai luồng quan điểm chính về di sản:

  • Quan điểm thứ nhất (từng thể hiện trong Thông tư 81/TANDTC năm 1981 và Điều 1112 BLDS Liên bang Nga): Di sản bao gồm cả tài sản, quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản không gắn liền với nhân thân người chết.
  • Quan điểm thứ hai: Di sản chỉ bao gồm tài sản và quyền tài sản; nghĩa vụ tài sản không phải là di sản mà là trách nhiệm tài sản được thanh toán bằng khối di sản để lại trong phạm vi giá trị di sản đó. Tác giả khẳng định quan điểm thứ hai phù hợp hơn về mặt lý luận và thực tiễn pháp lý Việt Nam hiện hành.

Lịch sử pháp luật Việt Nam về di sản thừa kế được phân kỳ qua ba giai đoạn:

  1. Giai đoạn trước năm 1945: Chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến và sự bất bình đẳng giới. Điều 113 Dân luật Bắc kỳ và Điều 111 Dân luật Trung kỳ quy định khi chồng chết thì vợ chỉ thay quyền quản lý tài sản chung, nhưng khi vợ chết trước thì chồng trở thành chủ sở hữu toàn bộ khối tài sản chung gồm cả kỷ phần của vợ. Thời kỳ này còn tồn tại tục lệ "phụ trái tử hoàn", buộc con cái phải gánh chịu toàn bộ nghĩa vụ nợ của cha mẹ kể cả khi di sản để lại không đủ để thanh toán.
  2. Giai đoạn 1945 - 1975: Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bãi bỏ hủ tục "phụ trái tử hoàn", khẳng định di sản của một người chỉ bao gồm tài sản. Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 quy định di sản bao gồm quyền sở hữu cá nhân và quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại. Tại miền Nam, Bộ Dân luật năm 1972 tiếp tục duy trì các quy định tương tự Dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ.
  3. Giai đoạn từ 1975 đến nay: Hiến pháp năm 1980 (Điều 27) và Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 xác lập nguyên tắc người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm thi hành nghĩa vụ tài sản trong phạm vi giá trị tài sản đã nhận. BLDS năm 1995 (Điều 637) từng tách riêng quyền sử dụng đất, nhưng đến BLDS năm 2005 (Điều 634) và BLDS năm 2015 (Điều 612), quyền sử dụng đất được coi là một dạng quyền tài sản thuộc tài sản của cá nhân.

Về mặt cấu trúc, di sản của người chết được phân định thành: phần thực hiện nghĩa vụ tài sản (thanh toán theo 9 thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 658 BLDS năm 2015) và phần di sản thừa kế thuần túy. Khối di sản thừa kế có thể bao gồm: phần di tặng (Điều 646), phần di sản thờ cúng (Điều 645), phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644) và phần di sản trực tiếp chia cho các đồng thừa kế.

Tác giả đưa ra công thức xác định di sản chia theo pháp luật: $$\text{Di sản phân chia} = \text{Tổng khối di sản} - (\text{Nghĩa vụ tài sản người chết để lại} + \text{Các chi phí khác})$$

Đối với thừa kế theo di chúc, công thức xác định là: $$\text{Di sản phân chia thừa kế} = \text{Tổng khối di sản} - (\text{Nghĩa vụ} + \text{Di tặng} + \text{Di sản thờ cúng} + \text{Suất thừa kế bắt buộc theo Điều 644})$$

Khái niệm phân chia di sản thừa kế được định nghĩa là tập hợp các hoạt động pháp lý nhằm xác lập quyền sở hữu của người được hưởng thừa kế đối với di sản thừa kế trong khối di sản chung sau khi đã thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản. Hậu quả pháp lý là chấm dứt tình trạng đồng sở hữu chung đối với di sản và làm phát sinh đầy đủ ba quyền năng (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) độc lập cho từng người thừa kế.

Chương 2: Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về phân chia di sản thừa kế

Chương này đi sâu phân tích cơ chế phân chia di sản theo hai hình thức: theo di chúc và theo pháp luật căn cứ trên các điều khoản của BLDS năm 2015.

1. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc

Căn cứ Điều 659 BLDS năm 2015, việc phân chia di sản theo di chúc được xử lý theo ba trường hợp cụ thể:

  • Trường hợp di chúc không xác định rõ phần của từng người: Di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp các đồng thừa kế có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp phân chia theo hiện vật: Người thừa kế nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị giảm sút tính đến thời điểm phân chia. Nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác, người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
  • Trường hợp phân chia theo tỷ lệ: Tỷ lệ được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia. Phần tài sản đã bị người thừa kế sử dụng hoặc định đoạt trước thời điểm phân chia vẫn được tính gộp vào tổng di sản và khấu trừ trực tiếp vào phần người đó được nhận.

Về nghĩa vụ tài sản, người thừa kế chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi giá trị di sản mà mình được hưởng. Nếu di chúc giao toàn bộ nghĩa vụ nợ cho một người nhưng phần di sản người đó nhận không đủ thanh toán, phần nghĩa vụ còn thiếu sẽ được chia theo tỷ lệ cho các đồng thừa kế khác có hưởng di sản.

Đối với trường hợp có di tặng (Điều 646) và di sản thờ cúng (Điều 645):

  • Người được di tặng không phải chịu nghĩa vụ tài sản đối với phần di sản được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ nợ của người chết.
  • Di sản dùng vào việc thờ cúng không được chia thừa kế và giao cho người chỉ định quản lý. Tuy nhiên, nếu toàn bộ di sản không đủ để thanh toán các nghĩa vụ nợ, không được trích di sản thờ cúng mà phải dùng toàn bộ tài sản để trả nợ.

Đối với người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (Điều 644 BLDS năm 2015): Nhóm chủ thể được bảo vệ bao gồm cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động. Mỗi người được hưởng $2/3$ suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo luật. Công thức tính suất thừa kế bắt buộc: $$\text{Suất hưởng Điều 644} = \frac{2}{3} \times \left( \frac{\text{Tổng di sản thừa kế}}{\text{Nhân suất}} \right)$$ Nhân suất để chia không bao gồm ba nhóm: người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có người thừa kế thế vị; người từ chối nhận di sản thừa kế (Điều 620); người bị truất/tước quyền hưởng di sản (Khoản 1 Điều 621).

2. Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật

Phân chia di sản theo pháp luật được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên chia hết cho hàng thừa kế trước, những người cùng hàng được chia các phần bằng nhau (Điều 651 BLDS năm 2015). Ba hàng thừa kế được luật định gồm:

  • Hàng thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
  • Hàng thứ hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cháu ruột gọi người chết là ông bà nội/ngoại.
  • Hàng thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì ruột; cháu ruột gọi người chết là bác/chú/cậu/cô/dì; chắt ruột gọi người chết là cụ.

Theo Điều 660 BLDS năm 2015, phương thức phân chia ưu tiên chia bằng hiện vật. Nếu không thể chia đều bằng hiện vật, các bên thỏa thuận định giá và người nhận hiện vật thanh toán phần chênh lệch giá trị cho người khác; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia giá trị. Trường hợp có thai nhi cùng hàng thừa kế thì phải tạm giữ lại một suất thừa kế tương đương; nếu thai nhi sinh ra và còn sống thì được hưởng, nếu chết trước khi sinh ra thì suất này được chia đều cho các đồng thừa kế khác.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế

Chương 3 tổng kết các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn áp dụng BLDS năm 2015 và đưa ra các kiến nghị lập pháp.

Các bất cập còn tồn tại trong áp dụng pháp luật bao gồm:

  • Hình thức của văn bản thỏa thuận phân chia di sản: Khoản 2 Điều 656 BLDS năm 2015 quy định thỏa thuận phải lập thành văn bản, Điều 57 Luật Công chứng năm 2014 quy định quyền yêu cầu công chứng nhưng pháp luật chưa quy định bắt buộc công chứng đối với mọi loại tài sản, dẫn đến tranh chấp về giá trị pháp lý giữa thỏa thuận miệng và văn bản viết tay đối với động sản.
  • Cơ chế bán di sản để chia theo Khoản 2 Điều 660 BLDS năm 2015: Thiếu quy định chi tiết về thủ tục bán, cơ quan có thẩm quyền định giá và cơ chế bán đấu giá khi các đồng thừa kế không thống nhất được phương thức bán hoặc giá bán.
  • Thời điểm phân chia di sản và phạm vi di sản: Vướng mắc trong việc xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản trong thời gian di sản chưa phân chia, cũng như ranh giới giữa tài sản chung của hộ gia đình/vợ chồng với di sản thừa kế cá nhân.

Tác giả đề xuất các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật: ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về giới hạn giá trị di sản dùng vào việc thờ cúng (định lượng tối đa phần trích lập nhằm tránh việc tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ nợ); quy định rõ ràng về trình tự cưỡng chế hoặc định giá bán di sản khi có tranh chấp theo Điều 660; hoàn thiện quy định về hình thức bắt buộc đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản có giá trị lớn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện cơ sở lý luận và cấu trúc pháp lý điều chỉnh việc phân chia di sản thừa kế theo hệ thống pháp luật Việt Nam.

Bảng tổng hợp các căn cứ và phương thức phân chia di sản thừa kế theo BLDS năm 2015

Tiêu chí Phân chia theo thỏa thuận Phân chia theo di chúc Phân chia theo pháp luật
Căn cứ áp dụng Sự đồng thuận của tất cả các đồng thừa kế (Điều 656) Di chúc hợp pháp của người để lại di sản (Điều 659) Quy định tại Điều 651, Điều 660 BLDS năm 2015
Phạm vi phân chia Toàn bộ hoặc một phần di sản theo thỏa thuận Theo định đoạt trong di chúc (trừ phần Điều 644) Chia đều cho những người cùng hàng thừa kế
Thứ tự ưu tiên Ưu tiên thực hiện ý chí tự do thỏa thuận dân sự Tôn trọng ý chí người chết, bảo vệ người thuộc Điều 644 Chia theo 3 hàng thừa kế; chia hết hàng trước mới đến hàng sau
Xử lý nghĩa vụ tài sản Các bên tự thỏa thuận trích tài sản thực hiện nghĩa vụ Thực hiện nghĩa vụ trước khi chia hoặc theo tỷ lệ tài sản nhận Thực hiện nghĩa vụ theo thứ tự Điều 658 trước khi chia suất
Hình thức phân chia Hiện vật hoặc giá trị theo thỏa thuận Hiện vật, tỷ lệ phần trăm hoặc số tiền cụ thể Ưu tiên hiện vật; nếu không chia được thì định giá hoặc bán chia tiền

Các kết quả và đóng góp chính của đề tài bao gồm:

  • Hệ thống hóa quá trình phát triển lịch sử của chế định thừa kế tại Việt Nam, phân tích rõ sự tiến bộ của việc xóa bỏ các hủ tục phong kiến như "phụ trái tử hoàn" và sự bình đẳng hóa quyền thừa kế.
  • Làm rõ cấu trúc phân chia di sản, xác lập ranh giới pháp lý giữa tài sản nợ (nghĩa vụ tài sản) và tài sản có (di sản phân chia thuần túy), hệ thống hóa 9 thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ theo Điều 658 BLDS năm 2015.
  • Cung cấp các công thức tính toán và phân tích các trường hợp điển hình liên quan đến di tặng (Điều 646), di sản thờ cúng (Điều 645), và kỷ phần bắt buộc của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644).
  • Nhận diện các điểm nghẽn pháp lý trong thực tiễn áp dụng Điều 656 và Điều 660 BLDS năm 2015, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện có giá trị tham khảo cho công tác lập pháp và áp dụng pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ chương trình đào tạo cử nhân ngành Luật nên còn một số giới hạn:

  • Về dữ liệu thực tiễn: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích các khía cạnh lý luận và quy phạm pháp luật thực định; chưa thống kê được số lượng án lệ và bản án tranh chấp phân chia di sản thừa kế trên phạm vi toàn quốc theo chuỗi thời gian nhiều năm.
  • Về phạm vi so sánh: Đề tài chưa mở rộng nghiên cứu đối chiếu chuyên sâu với pháp luật thừa kế của các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Common Law) hoặc Dân luật (Civil Law) hiện đại ngoài một số liên hệ ngắn với pháp luật Liên bang Nga.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khảo sát thực tiễn xét xử các tranh chấp phân chia di sản là quyền sử dụng đất và cổ phần doanh nghiệp tại các cấp Tòa án nhân dân; nghiên cứu cơ chế công chứng và đăng ký quyền tài sản sau khi phân chia di sản thừa kế.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học khi nghiên cứu chế định thừa kế trong học phần Luật Dân sự.
  • Cán bộ tư pháp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và Công chứng viên trong việc tra cứu các bước xác định di sản, thứ tự thanh toán nghĩa vụ nợ và phương pháp tính kỷ phần bắt buộc theo Điều 644 BLDS năm 2015.
  • Phần nội dung phân tích lịch sử lập pháp và các ví dụ minh họa về tính toán suất thừa kế là tài liệu học tập, giảng dạy có tính trực quan cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Di sản thừa kế theo quy định của BLDS năm 2015 có bao gồm các nghĩa vụ tài sản (khoản nợ) của người chết hay không? Theo Điều 612 BLDS năm 2015 và phân tích của tác giả, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, không bao gồm nghĩa vụ tài sản. Nghĩa vụ tài sản (khoản nợ) được thanh toán từ khối di sản của người chết theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 658; người thừa kế chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi giá trị di sản mà mình được hưởng.

2. Thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ tài sản và các chi phí liên quan đến di sản được quy định như thế nào theo Điều 658 BLDS năm 2015? Điều 658 BLDS năm 2015 quy định 9 thứ tự ưu tiên thanh toán: (1) Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; (2) Tiền cấp dưỡng còn thiếu; (3) Chi phí cho việc bảo quản di sản; (4) Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ; (5) Tiền công lao động; (6) Tiền bồi thường thiệt hại; (7) Thuế và các khoản nộp khác vào ngân sách nhà nước; (8) Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân; (9) Các chi phí khác.

3. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (Điều 644 BLDS năm 2015) được hưởng bao nhiêu và những ai không được tính vào nhân suất để chia? Người thừa kế theo Điều 644 gồm: cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động; mỗi người được hưởng $2/3$ của một suất thừa kế theo pháp luật. Khi tính nhân suất để xác định giá trị $1$ suất thừa kế theo luật, loại trừ 3 nhóm: người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà không có người thừa kế thế vị; người từ chối nhận di sản (Điều 620); người bị tước quyền hưởng di sản (Điều 621).

4. Người được di tặng và phần di sản dùng vào việc thờ cúng được xử lý ra sao nếu di sản của người chết không đủ trả nợ? Theo Khoản 3 Điều 646 và Khoản 2 Điều 645 BLDS năm 2015, người được di tặng bình thường không phải chịu nghĩa vụ nợ, nhưng nếu toàn bộ di sản không đủ để trả nợ thì phần di tặng cũng phải trích ra để thanh toán. Tương tự, nếu toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng mà phải dùng toàn bộ tài sản để trả nợ.

5. Khi phân chia di sản theo hiện vật mà các đồng thừa kế không thể chia đều thì xử lý như thế nào theo Điều 660 BLDS năm 2015? Theo Khoản 2 Điều 660 BLDS năm 2015, những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia bằng hiện vật. Nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì các bên thỏa thuận định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật (kèm nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch giá trị); nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia giá trị thu được.

Kết luận

Khóa luận "Phân chia di sản thừa kế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã hệ thống hóa một cách khoa học các vấn đề lý luận, tiến trình lịch sử và các quy định pháp luật dân sự hiện hành về phân chia di sản thừa kế tại Việt Nam. Thông qua việc đối chiếu quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 với thực tiễn giải quyết tranh chấp, tác giả đã làm rõ các cơ chế phân chia di sản theo di chúc, theo pháp luật, cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thừa kế bắt buộc, cùng thứ tự thanh toán nghĩa vụ tài sản. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất trong công trình mang tính thực tiễn, đóng góp thiết thực vào việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật dân sự về thừa kế.