CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM MỞ THỪA KẾ Theo quy định của BLDS năm 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết (khoản 3 Điều 16). Cái chết của cá nhân chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ cũng như quan hệ xã hội; đồng thời, làm phát sinh quan hệ thừa kế. Để đảm bảo quyền lợi của những người còn sống, việc xác định thời điểm cá nhân chết giúp xác định thời điểm mở thừa kế. Xác định thời điểm mở thừa kế có vai trò rất quan trọng và nó liên quan đến nhiều vấn đề có tính pháp lý.
Thời điểm mở thừa kế được xác định trên giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ chứng minh như: trích lục hộ tịch theo quy định Luật hộ tịch1 hay giấy chứng tử theo quy định trước đây theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; hoặc Tòa án tuyên bố cá nhân chết thì thời điểm ghi trong quyết định là thời điểm mở thừa kế. Xác định thời điểm mở thừa kế trong trường hợp cá nhân chết thông thường Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết được quy định tại khoản 1 Điều 633 BLDS năm 2005. Quy định này cũng được BLDS năm 2015 kế thừa tại khoản 1 Điều 611. Việc xác định thời điểm mở thừa kế trong trường hợp cá nhân chết thông thường được dựa vào giấy chứng nhận như: trích lục hộ tịch hay giấy chứng tử hoặc các giấy tờ chứng minh thời điểm cá nhân chết.
Tuy nhiên, có những trường hợp không có trích lục hộ tịch hay giấy chứng tử hoặc các giấy tờ chứng minh thời điểm cá nhân chết mà pháp luật dân sự Việt Nam chưa quy định cụ thể để làm căn cứ xác định thời điểm mở thừa kế. Trường hợp có giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ chứng minh Về căn cứ để xác định thời điểm mở thừa kế là nội dung trên giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ chứng minh như: trích lục hộ tịch hoặc giấy chứng tử về “giờ, ngày, tháng, năm” cá nhân đó qua đời. Tuy nhiên, cái chết của cá nhân đó phải được xác định một cách chính xác và theo quy định của pháp luật là bắt buộc phải “khai tử”. Trích lục hộ tịch hoặc giấy chứng tử là căn cứ chấm dứt quyền công dân 1 Khoản 9 Điều 4 Luật hộ tịch năm 2014: “Trích lục hộ tịch là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp nhằm chứng minh sự kiện hộ tịch của cá nhân đã đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch”.
8 của mỗi người, nhưng cá nhân chết sẽ không thể tự mình thực hiện thủ tục đăng ký khai tử cho chính mình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hộ tịch năm 2014: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử. Khi có người chết thì thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết không có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử. Trước đây, việc khai tử được thực hiện theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Kể từ ngày 01/01/2016, việc khai tử được thực hiện theo Luật hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch năm 2014. Theo đó, người đi khai tử phải nộp giấy báo tử hoặc giấy tờ thay cho giấy báo tử. Giấy báo tử phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người chết; địa điểm chết, nguyên nhân chết và đặc biệt là phải ghi rõ “giờ, ngày, tháng, năm chết” theo Dương lịch. Trong trường hợp không có giấy báo tử, người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử có thể nộp giấy tờ khác thay thế giấy báo tử 2; các trường hợp còn lại thì UBND cấp xã nơi người đó chết có trách nhiệm cấp giấy báo tử.
Như vậy, xác định thời điểm người để lại di sản chết theo quy định phải đủ thành phần về mặt thời gian là “giờ, ngày, tháng, năm chết” và được thể hiện trên trích lục hộ tịch hay giấy chứng tử hoặc các giấy tờ thay thế để chứng minh (khoản 1, 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP). Trường hợp không có giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ chứng minh 1. Xác định thời điểm mở thừa kế dựa vào sự thừa nhận giữa các đương sự Giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ chứng minh khác như: Trích lục hộ tịch hay giấy chứng tử là căn cứ để xác định thời điểm mở thừa kế nhưng trong thực tế, không phải trích lục hộ tịch hay giấy chứng tử là chứng cứ duy nhất và tuyệt đối để 2 Đối với người chết tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế cấp giấy báo tử; đối với người chết do thi hành án tử hình thì Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình cấp giấy xác nhận việc thi hành án tử hình thay giấy báo tử; đối với người bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thay giấy báo tử; đối với người chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn thì văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc kết quả giám định của Cơ quan giám định pháp y thay giấy báo tử. 9 xác định thời điểm mở thừa kế vì cơ quan ban hành giấy chứng tử không phải là nhân chứng trực tiếp đối với cái chết của người để lại di sản mà thông thường chỉ dựa vào nội dung khai báo của những người có liên quan.
Trong Bản án số 137/2007/DSST ngày 19/9/2007 của TAND thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang3: Việc xác định thời hiệu khởi kiện dựa vào giấy chứng tử nhưng giấy chứng tử do bà Tuyền khai tại UBND phường Vĩnh Mỹ về thời gian chết của bà Khuyến là không chính xác. Tòa án nhận định theo Giấy chứng tử số 71/HT, quyển số 01/1999, ngày 23/02/1999 do UBND phường Vĩnh Mỹ cấp bà Khuyến chết ngày 27/10/1998. Nếu căn cứ vào ngày chết theo Giấy chứng tử ngày 23/2/1999 thì thời hiệu khởi kiện tranh chấp về quyền thừa kế đối với di sản của bà Khuyến vẫn còn và Tòa án đã xét qua “đối chất” ngày, bà Tuyền xác định bà là người đăng ký khai tử cho bà Khuyến, ngày chết của bà Khuyến theo bà khai ngày 27/10/1998 là sai. Như vậy, ngày chết của bà Khuyến ghi nhận theo giấy chứng tử là sai nên không lấy làm căn cứ để tính thời hiệu khởi kiện.
Qua vụ việc nêu trên, chúng ta thấy việc xác định thời điểm người để lại di sản chết đôi khi cũng gặp khó khăn, nếu chỉ dựa vào giấy chứng tử để xác định ngày chết của người để lại di sản là chưa đủ, chưa đảm bảo khách quan, chính xác. Trong thực tế, người đi khai tử cho người để lại di sản thường là những người thân thích, dòng họ trong gia đình nhưng khi họ cố ý khai sai lệch thời điểm người để lại di sản chết để chiếm đoạt tài sản, giành phần di sản của người chết về mình. Theo tác giả, việc Tòa án xác minh để kiểm tra ngày chết hoặc “đối chất” những người có liên quan để xác định ngày chết và bác bỏ thời điểm người để lại di sản chết ghi trong giấy chứng tử như vụ việc như trên là hợp lý, đảm bảo quyền và lợi ích của những đồng thừa kế. Theo quy định của pháp luật, việc xác định thời điểm người để lại di sản chết dựa vào trích lục hộ tịch hay giấy chứng tử hoặc các giấy tờ chứng minh thời điểm cá nhân chết, nhưng một khi trích lục hộ tịch hay giấy chứng tử hoặc các giấy tờ chứng minh khác không được chấp nhận giống như trường hợp nêu trên thì Tòa án dựa vào chứng cứ gì để xác định thời điểm người để lại di sản chết.
Trong thực tế, Tòa án có thể dựa vào sự thống nhất giữa các đương sự về thời điểm người để lại di sản chết. 3 Đỗ Văn Đại (2016), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, tập 1 (Xuất bản lần thứ 3), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 10 Trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế tài sản của TAND huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long4, Tòa án xác định thời điểm chết của người để lại di sản dựa vào lời khai của các đương sự: “Năm 1986 ông Điểu chết đến ngày 31/3/2010 bà Lệ chết đây là sự việc thực tế có xảy ra được các đương sự thừa nhận nên không phải chứng minh theo quy định tại Điều 80 Bộ luật tố tụng dân sự”. Trong vụ án này, Tòa án không yêu cầu nguyên đơn là chị Phương cung cấp giấy chứng tử hoặc các giấy tờ chứng minh khác để xác định thời điểm cha, mẹ chị là ông Điểu và bà Lệ chết vào thời điểm nào mà Tòa án dựa vào lời khai và sự thừa nhận của chị Phương cùng bị đơn là anh Lương và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Cẩm và anh Linh.
Ở đây, Tòa án chỉ dựa vào sự thỏa thuận thống nhất giữa các bên có liên quan làm căn cứ để xác định thời điểm người chết để lại di sản. Như vậy, sự thống nhất, thừa nhận của các bên có liên quan Tòa án có thể dùng để chứng minh thời điểm người để lại di sản chết, tức là ngày mở thừa kế. Với hướng xét xử của Tòa án nêu trên, tác giả thống nhất vì nó hợp lý, phù hợp với thực tiễn. Mặc dù pháp luật dân sự không quy định việc thỏa thuận giữa các đương sự làm căn cứ để xác định thời điểm người để lại di sản chết (hay nói cách khác là thời điểm mở thừa kế), nhưng thực tế những người thừa kế là những người thân thuộc với người để lại di sản nên việc xác định thời điểm người để lại di sản chết vào thời gian nào thì chính xác và có cơ sở.