phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong hai chương. Những van đề chung về quản lý di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam. Thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng Pháp luật Việt Nam về quản lý đi sản thừa kế và giải pháp. CHUONG 1 - MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ DI SAN THỪA KE THEO PHÁP LUAT VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm pháp ly của di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam 1. Khái niệm di sản thừa kế Di sản là một từ Hán Việt được ghép bởi hai từ “Di” và từ “Sản”, theo đó mỗi từ có những cách hiểu khác nhau. Đối với từ “Di” có thể hiểu như sau: “Di” là biéu hiện của sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tác động nào đó lên một vật để lại dau vết nhất định. “Di” cũng được hiểu là đời đi nơi khác, đi chỗ khác [36, 505], không còn ở vị trí ban đầu, nó là một biểu hiện của sự chuyền động từ vi trí này đến vị trí khác trong không gian và thời gian.
Ngoài ra, “DI” còn được hiểu là sự truyền lại, lưu lại để lại cho người sau, thé hệ sau. Như vậy, có thé hiểu “Di” một cách chung nhất là sự dịch chuyển sự vật, hiện tượng, làm thay đổi vị trí của chúng trong không gian và thời gian, sự thay đổi này bao gồm các yếu tố trước và sau, trong thời gian ngắn, hoặc có thê diễn ra trong cả một quá trình. Đối với từ “Sản” cũng có thê hiéu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Sinh ra, làm ra, tạo ra sản phẩm dé sinh song [36, 1554]. - Cai do con người tao ra, là kết qua tự nhiên của quá trình lao động sản xuất.
- Là từ dùng dé chỉ gia tài, sản nghiệp mang tính tông thé của những tài sản trong một khối. Với các nghĩa này “Sản” có thể hiểu là tài sản hoặc khối tài sản nằm trong sự chiếm hữu và sử dụng dé mang lại lợi ích cho con người. Từ “Di” va từ “Sản” ghép lại thành từ “di sản” với ý nghĩa chỉ của cải, gia tài, sản nghiệp của thời trước dé lại cho đời sau. 10 Ngoài ra, thuật ngữ “di sản” được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau như: văn hóa, kinh tế, pháp luật, khảo cô học, nghệ thuật, thâm mỹ.
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm “di sản” như sau: “Di sản là tài sản của người chết để lại, có di chúc hoặc không có di chúc, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền tài sản do người chết dé lại” [35,118]. Di sản là một vẫn đề hết sức phức tạp, khi nói về di sản vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau theo từng giai đoạn khác nhau. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, xây dựng hệ thống chính quyền mới với chế độ chính trị khác, ngày 22 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 97/SL dé sửa đổi một số quy lệ và chế định trong luật cũ (Sắc lệnh số 97/SL) trong đó có vấn đề thừa kế: “Con, cháu, hoặc vợ chồng của người chết không bắt buộc phải nhận thừa kế Của nØƯỜời ay. Khi nhận thừa kế, các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại”.
“Trong lúc còn sinh thời, người chồng góa vợ hay vợ goa, các con đã thành niên có quyền xin chia phan tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã thanh toán tài sản chung”. Đây là những nguyên tắc có tính đột phá đã xóa bỏ tính cô hủ, lỗi thời theo tục lệ “phụ trái tử hoàn” của pháp luật thừa kế của xã hội trước đó. Mặc dù sắc lệnh số 97/SL chưa quy định cụ thê về di sản, nhưng với những quy định ấy cũng đã thé hiện rõ di sản không bao gồm nghĩa vụ tài sản và chỉ trong phạm vi di sản của người chết. Theo Hiến pháp năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 cùng những quy định về di sản thời kỳ đó như: Thông tư 594/NCPL ngày 27 tháng 8 năm 1968 hướng dẫn đường lối xét xử các tranh chấp về thừa kế và Thông tư số 02/TATC ngày 28 tháng 8 năm 1973 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về di sản liệt sĩ nhằm đáp ứng yêu cầu của nhân dân và phục vụ cho công tác giải quyết tranh chap về thừa kê nói chung và di sản nói riêng.
11 Theo các văn bản trên, di sản không chỉ là tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân người đó để lại mà còn bao gồm cả quyền tài sản và nghĩa vụ phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do gây thiệt hại mà người chết dé lại. Chúng ta có thé thấy, tai Thông tư 594/NCLP ngày 27 tháng 8 năm 1968 và Thông tư 02/TATC ngày 28 tháng 8 năm 1973 đã coi nghĩa vụ về tài sản là di sản. Ngày 30 tháng 8 năm 1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Thừa kế. Đây là văn bản thê hiện đầy đủ và có hệ thống nhất về lĩnh vực thừa kế.
Điều 4 của Pháp lệnh đã quy định di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền về tài sản do người chết dé lại. Tài sản gồm có tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các thu nhập hợp pháp. Trong trường hợp vợ hoặc chồng chết thì một nửa tài sản chung của vợ chồng thuộc về di sản của người chết. Rõ ràng Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 coi nghĩa vụ về tài sản không là di sản.
Pháp luật dân sự Việt Nam từ trước đến nay chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm về di sản thừa kế mà chỉ gián tiếp hoặc trực tiếp quy định về thành phan của di sản thừa kế. Theo quy định tại Điều 634 BLDS năm 2005: “Di san bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Tài sản theo quy định Điều 163 của BLDS năm 2005 quy định bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyén tài sản. Đến BLDS năm 2015, định nghĩa di sản trên được giữ nguyên theo Điều 612 BLDS năm 2015, được phân định theo 2 hình thức, liệt kê và tính theo đặc điểm “động” hay “bất động” của tài sản, quy định cụ thê tại Điều 105 gồm tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tài sản bao gồm bat động san và động sản. Bat động sản và động sản có thê là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Đặc diém pháp lý của di sản thừa kế Di sản thừa kế là một khái niệm quan trọng trong pháp luật, đại diện cho các tài sản và quyền lợi được chuyển nhượng từ người đã chết cho người thừa kế. Để được xem xét là di sản thừa kế, trước hết di sản đó phải là tài sản của người chết.
Tài sản nói chung bao gồm bắt động sản và động sản, có thê là vật, tiền, giấy tờ có giá và phải thuộc sở hữu của người chết. Do vậy, di sản cũng sẽ được chia thành di sản là động sản và di sản là bất động sản. Di sản là động sản: Di sản là động sản thì di sản đó phải đáp ứng yêu cầu là tài sản hợp pháp, không có tranh chấp, thuộc quyền sở hữu của cá nhân, hay phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Đối với tài sản là động sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu như xe ô tô, xe may.
thì việc xác định động sản đó có phải là di sản hay không rõ ràng rất đơn giản bởi động sản đã có được đăng ký thuộc về di sản người đã chết. Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu như laptop, máy ảnh, điện thoại, đồng hồ.thì dường như khó khăn hơn trong việc xác định tài sản đó có phải là di sản, di sản đó là đi sản chung hay riêng bởi tài sản ấy phải được chứng minh là tài sản của người chết để lại. Di sản là động sản phải là tài sản hợp pháp được phép lưu thông trên thị trường. Trong trường hợp di sản là vật bi hạn chế lưu thông hoặc cam lưu thông, chăng hạn như: ma túy, tài sản trộm cắp mà có,.thì tài sản ay cũng không được xem là di sản và người thừa kế đương nhiên không được hưởng di sản mà phải xử lý theo quy định của pháp luật.
Di sản là động sản phải tồn tại đến thời điểm người để lại di sản chết. Di sản là động sản đã bị mat mát, hư hỏng không thé sửa chữa, sử dụng đến thời điểm người dé lại tài sản chết thì đương nhiên động sản ay cũng không tôn tại đê được coi là di sản. 13 Di sản là bất động sản: Di sản là bất động sản phải thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản. Một đại diện cụ thể nhất cho bất động sản là đất đai.
Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên được xem như không thé bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp,. Đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo nâng cấp có thê tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, bất động sản tồn tại đến thời điểm người để lại di sản chết là điều đương nhiên và tính lâu bền của bat động sản là chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc và công trình xây dựng gắn liền với bất động sản đó. Do đó, vấn đề quan trọng nhất dé bat động sản trở thành di sản thì bất động sản ấy phải thuộc sở hữu hợp pháp của người để lại di sản.
Di sản dùng vào việc thờ cúng: Thứ nhất, di sản dùng vào việc thờ cúng không dùng để chia thừa kế. Năng lực pháp luật dân sự của một người chấm dứt khi người đó chết, và quyền sở hữu của người đó đối với tài sản cũng chấm dứt. Pháp luật thừa kế là cơ sở dé xác định quyền sở hữu mới cho di sản người chết dé lại. Do đó về nguyên tắc di sản mà người chết để lại là được dùng để chia thừa kế.
Pháp luật hiện hành rất tôn trọng quyền tự do định đoạt về tài sản của cá nhân.