phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm hai chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và giải pháp hoàn thiện quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản. 7 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI ĐIỂM CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU DI SẢN 1. Khái quát về thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản 1.
Khái niệm về thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản Khái niệm về thời điểm Trong pháp luật dân sự, khái niệm “thời điểm” xuất hiện rất nhiều lần trong các quy định, ví dụ nhƣ: thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản; thời điểm giao kết hợp đồng; thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng,… Hay khái niệm này còn đƣợc dùng để định nghĩa một khái niệm khác trong luật, cụ thể “Thời hạn là một khoảng thời gian đƣợc xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác”4. Thời điểm có vị trí quan trọng trong quan hệ dân sự, vì gắn với mỗi thời điểm khác nhau chủ thể tham gia quan hệ có những quyền, nghĩa vụ khác nhau. Việc xác định đúng những mốc thời gian làm phát sinh sự kiện pháp lý liên quan đến quan hệ dân sự mình tham gia luôn đƣợc các chủ thể chú trọng để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của bản thân. Nhƣng thời điểm là gì? Hiện nay trong văn bản pháp luật, từ điển pháp lý chƣa chỉ rõ cách hiểu thế nào là thời điểm.5 Ở góc độ nghiên cứu của từ điển tiếng việt thì thời điểm là “một khoảng thời gian rất ngắn”6, có thể coi là “một điểm trên trục thời gian”7.
Dựa trên khái niệm về thời điểm của từ điển tiếng việt và những quy định pháp luật có liên quan đến thời điểm thì chúng ta có thể hiểu trong khoa học pháp lý: thời điểm chính là khoảng thời gian cực ngắn do luật định trong đó xảy ra một sự kiện pháp lý8. Khái niệm về di sản Trong pháp luật về thừa kế thì di sản đƣợc hiểu là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ngƣời chết để lại, là đối tƣợng của quan hệ pháp luật liên quan đến việc dịch chuyển tài sản của ngƣời đó sang cho những ngƣời hƣởng thừa kế đƣợc nhà nƣớc thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Di sản thừa kế là các loại tài sản đƣợc quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 không bị hạn chế về số lƣợng, 4 Khoản 1 Điều 144 BLDS 2015. 5 Trƣơng Thị Thúy Hằng (2011), Thời điểm chuyển quyền sở hữu bất động sản, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Tp.
6 “Thời điểm là một khoảng thời gian rất ngắn trong đó xảy ra một sự kiện quan trọng”– Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. 7 “ Thời điểm là một khoảng thời gian cực ngắn được hạn định một cách chính xác, coi như một điểm trên trục thời gian”, Từ điển tiếng việt (2006), Viện ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học. 8 Trƣơng Thị Thúy Hằng (2011), tlđd (5), tr.
8 giá trị miễn là thuộc quyền sở hữu của cá nhân, bao gồm: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”9. Theo quy định của pháp luật10, di sản bao gồm: Tài sản riêng của ngƣời chết: là tài sản do ngƣời đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp của mình lúc còn sống, chẳng hạn nhƣ: tƣ liệu sinh hoạt, tiền, vàng, bạc, nhà ở, vốn cổ phần, tƣ liệu sản xuất mà ngƣời đó sử dụng để tiến hành sản xuất kinh doanh, thành lập doanh nghiệp tƣ nhân, hoặc góp vốn vào công ty11. Tài sản của ngƣời chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng: khái niệm về tài sản chung của vợ chồng đã đƣợc quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 201412. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất.
Khi một bên chết trƣớc và có yêu cầu chia di sản thừa kế, khối tài sản chung này đƣợc chia đôi một nửa thuộc sở hữu của ngƣời đang sống, phần còn lại đƣợc xác định là di sản của ngƣời đã chết. Tài sản của ngƣời chết trong khối tài sản chung với ngƣời khác: sở hữu chung theo phần cho phép xác định phần quyền của mỗi chủ sở hữu. Phần tài sản này có thể do họ góp vốn, góp công sức để cùng kinh doanh; phần vốn góp trong công ty; phần tài sản đƣợc cho chung, đƣợc thừa kế chung của họ trong khối tài sản chung của nhiều ngƣời. Vì vậy, khi ngƣời này chết phần tài sản của họ trong khối tài sản chung theo phần là di sản mà họ để lại.13 Để có cái nhìn rõ hơn về di sản, chúng ta phân chia di sản dựa theo loại tài sản: Di sản là hiện vật và tiền sẵn có của ngƣời để lại di sản trƣớc khi chết.
Di sản là tài sản hình thành trong tƣơng lai: có một số trƣờng hợp tài sản có đƣợc sau khi một ngƣời chết cũng đƣợc coi là di sản. Ví dụ: tài sản mà doanh 9 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học BLDS năm 2015 của nước CHXHCN Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 10 Điều 612 BLDS năm 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của ngƣời chết, phần tài sản của ngƣời chết trong tài sản chung với ngƣời khác”.
11 Hoàng Thế Liên (2010), Bình luận khoa học BLDS năm 2005 (Tập III), Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 12 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác nhau của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng đƣợc thừa kế chung hoặc đƣợc tặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đƣợc sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng”. 13 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), tlđd (9), tr.
9 nghiệp khuyến mãi cho ngƣời mua hàng bằng việc bốc thăm, mà lúc mua thì chƣa bốc thăm, sau khi chết mới bốc thăm và trúng thƣởng, tiền bảo hiểm, tiền lãi… Di sản là quyền tài sản phát sinh từ việc Nhà nƣớc giao các quyền tài sản, từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng. Ví dụ: quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ về những món tiền mà ngƣời chết đã cho vay khi còn sống, quyền đòi tiền làm thuê chƣa trả hết cho ngƣời chết lúc còn sống, quyền đòi bồi thƣờng thiệt hại do ngƣời khác đã gây thiệt hại cho ngƣời để lại di sản khi ngƣời đó còn sống,…14 Di sản là quyền tài sản phát sinh khi ngƣời quá cố chết và do sự kiện chết đó. Trong hợp đồng bảo hiểm tính mạng hoặc bảo hiểm nhân thọ, nếu khi lập hợp đồng bảo hiểm không nói rõ ai sẽ đƣợc hƣởng số tiền bảo hiểm, thì khi ngƣời mua bảo hiểm chết, quyền đòi số tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm trả thuộc di sản của ngƣời mua bảo hiểm và thuộc về tất cả những ngƣời thừa kế theo pháp luật. Còn nếu trong hợp đồng bảo hiểm đã xác định rõ số tiền bảo hiểm thuộc về ai thì chỉ ngƣời đó có quyền yêu cầu chi trả tiền bảo hiểm sau khi ngƣời mua bảo hiểm chết.15 Di sản không bao gồm những quyền tài sản gắn với nhân thân ngƣời để lại di sản.
Ví dụ nhƣ: quyền của ngƣời để lại di sản khi còn sống đƣợc hƣởng lƣơng hƣu, hƣởng trợ cấp thƣơng tật, đƣợc cấp dƣỡng của ngƣời để lại di sản khi còn sống do quan hệ hôn nhân và gia đình. Những quyền tài sản này chấm dứt khi ngƣời để lại di sản chết và không chuyển cho những ngƣời thừa kế. Trong thực tế, còn xuất hiện một loại tranh chấp về tiền phúng điếu. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về việc liệu tiền phúng điếu có phải là di sản không.
Tác giả cho rằng tiền phúng điếu không phải là di sản vì tiền này không phải là tài sản của ngƣời chết để lại mà có sau thời điểm mở thừa kế, và nó cũng không phải là kết quả của những hành vi có trƣớc của ngƣời chết nhƣ tiền trúng xổ số, tiền lãi,… Khái niệm về thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản Thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản chƣa có định nghĩa cụ thể trong quy định của pháp luật. Nhƣng có thể hiểu một cách chung nhất thì thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản là thời điểm mà tài sản của ngƣời chết đƣợc chuyển giao cho ngƣời thừa kế (còn sống) kể từ thời điểm ngƣời có tài sản chết. Sau thời điểm này, chủ thể là chủ sở hữu ban đầu sẽ mất quyền sở hữu và chủ thể mới có đƣợc quyền 14 Hoàng Thế Liên (2010), tlđd (11), tr. 15 Hoàng Thế Liên (2010), tlđd (11), tr.
10 sở hữu đối với di sản. Lúc này, các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu mới đối với di sản cũng phát sinh. Theo nghĩa chủ quan: thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản là thời điểm di sản của ngƣời chết đƣợc xác lập quyền sở hữu cho ngƣời thừa kế. Quyền sở hữu của ngƣời để lại di sản chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của ngƣời thừa kế.
Theo nghĩa khách quan: thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản là tổng thể các quy phạm pháp luật về khoảng thời gian rất ngắn có thể coi là một điểm trên trục thời gian trong đó xảy ra sự kiện cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chính thức ghi nhận sự chuyển dịch quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với di sản của chủ thể này cho chủ thể khác thông qua việc để thừa kế. Ý nghĩa của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản có ý nghĩa rất quan trọng. Vì thừa kế là một loại quan hệ tài sản chỉ phát sinh sau khi ngƣời để lại di sản chết hoặc đƣợc xác định là đã chết theo một bản án tuyên bố cá nhân chết có hiệu lực pháp luật16. Do đó, thời điểm chuyển quyền sở hữu di sản có điểm khác biệt đáng kể so với thời điểm chuyển giao quyền sở hữu của các loại giao dịch dân sự khác.