Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Huyền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Tình, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019 (Mã số chuyên ngành: 9.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tự kỉ là một dạng rối loạn phát triển đặc trưng bởi sự suy giảm tương tác xã hội, khiếm khuyết giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ cùng các hành vi hạn hẹp, lặp lại. Tỉ lệ trẻ mắc chứng tự kỉ ghi nhận xu hướng gia tăng trên phạm vi toàn cầu: tại Anh, số liệu năm 2010 là 1/86 trẻ, đến năm 2013 tăng lên 1/58 trẻ; tại Hàn Quốc, báo cáo ghi nhận tỉ lệ chiếm 2,6% dân số; các nghiên cứu tại châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ phản ánh khoảng 1% dân số mắc chứng tự kỉ. Tại Việt Nam, tự kỉ được biết đến từ thập niên 90 của thế kỷ XX; số liệu tại Bệnh viện Nhi đồng 1 (Thành phố Hồ Chí Minh) ghi nhận sự gia tăng từ 2 trẻ điều trị năm 2000 lên 170 trẻ năm 2004 và 324 trẻ năm 2008. Khảo sát của Đại học Y Hà Nội năm 2012 tại tỉnh Thái Bình trên 6.583 trẻ từ 18–24 tháng tuổi cho thấy tỉ lệ mắc tự kỉ là 0,46% (tỉ lệ nam/nữ là 6,4/1). Thống kê năm 2015 của Khoa Tâm bệnh học – Bệnh viện Nhi Trung ương chỉ ra tỉ lệ bé trai mắc tự kỉ cao gấp 4–6 lần bé gái, phân bố ở thành thị cao hơn nông thôn. Cục Bảo trợ Xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) ước tính Việt Nam có hơn 200.000 người mắc chứng tự kỉ.

Khi phát hiện con bị tự kỉ, cha mẹ thường đối diện với các cú sốc tâm lý, khủng hoảng cảm xúc, thất vọng, áp lực kinh tế và tình trạng thiếu hụt kiến thức, kỹ năng chăm sóc cũng như khó khăn tiếp cận hệ thống dịch vụ giáo dục – xã hội. Mặc dù tham vấn tâm lý là phương thức trợ giúp chuyên môn nhằm củng cố năng lực thích ứng của thân chủ, thực tiễn tại Việt Nam cho thấy đội ngũ làm công tác tham vấn còn thiếu tính chuyên nghiệp, thường có sự nhầm lẫn giữa tham vấn (hướng tới nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của thân chủ) và tư vấn (chủ yếu mang tính cho lời khuyên dựa trên kinh nghiệm cá nhân). Nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý dành riêng cho nhóm cha mẹ có con bị tự kỉ ở Việt Nam còn khiêm tốn, chưa có công trình chuyên sâu giải quyết toàn diện vấn đề này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ và các yếu tố ảnh hưởng; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị giúp tổ chức chuyên môn đáp ứng tốt hơn nhu cầu tham vấn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỉ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ.
    2. Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ (bao gồm các khái niệm: nhu cầu tham vấn tâm lý, trẻ tự kỉ, khó khăn tâm lý, biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng).
    3. Khảo sát, đánh giá thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ khi gặp khó khăn tâm lý và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này.
    4. Đề xuất các kiến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ hai biểu hiện cấu thành gồm nhu cầu về nội dung tham vấn (5 nội dung) và nhu cầu về hình thức tham vấn (trực tiếp, gián tiếp), đồng thời xác định các yếu tố tác động. Khảo sát tập trung chủ yếu vào người mẹ với tư cách là người chăm sóc chính trong gia đình.
  • Địa bàn nghiên cứu: Khoa Tâm bệnh học – Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội), Trung tâm Từng bước nhỏ (Thành phố Hải Phòng) và Trung tâm Can thiệp Tâm An (Thành phố Hà Nội).
  • Khách thể nghiên cứu: Tổng số 130 khách thể tham gia, bao gồm 120 cha/mẹ tham gia khảo sát định lượng, 20 khách thể phỏng vấn sâu (10 cha/mẹ, 5 cán bộ tham vấn tâm lý, 5 giáo viên dạy trẻ tự kỉ) và 2 người mẹ tham gia nghiên cứu trường hợp chuyên sâu. Mẫu được chọn dựa trên hồ sơ trẻ đã được chẩn đoán xác định mắc chứng tự kỉ bởi bác sĩ Khoa Tâm bệnh học – Bệnh viện Nhi Trung ương và được sàng lọc, đánh giá lại tại các trung tâm can thiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Về khó khăn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ: Leo Kanner (1943, 1949) đưa ra giả thuyết ban đầu về nguyên nhân tự kỉ; Mercer, Creighton, Holden và Lewis (2006) khảo sát nhận thức nguyên nhân từ 41 phụ huynh (90,2% cho là di truyền, 68,3% do thai kỳ, 51,2% do chế độ ăn, 40% do vaccine); Hallmayer và cộng sự (2006) xác định tỉ lệ cùng mắc ở cặp sinh đôi cùng trứng từ 0–31% và nguy cơ ở lần sinh tiếp theo từ 2–18%; Robertson, Chamberlain và Kasari (2003) cùng Symon và cộng sự (2005) chỉ ra sự thiếu hụt hỗ trợ trong giáo dục hòa nhập; Serrata (2012) phân tích mối tương quan nghịch giữa mức độ căng thẳng của cha mẹ và chất lượng hôn nhân; Crenguta Oprea và Andreea Stan (2012) khảo sát 22 bà mẹ cho thấy tỉ lệ ly hôn ở cha mẹ có con tự kỉ cao gấp đôi nhóm khuyết tật khác; Alexandra H. Solomon và Beth Chung (2012), Amber Harper và cộng sự (2013, khảo sát 101 cha mẹ), Jason Neely và cộng sự (2012), Wall (2007) phân tích các trải nghiệm bị cô lập và kì thị xã hội.
  • Về cách thức hỗ trợ và giải quyết khó khăn: Kathleen C. Thomas và cộng sự (2006) xây dựng mô hình can thiệp sớm 5 thành tố; Tonge Bruce và cộng sự (2010) đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục phụ huynh và can thiệp hành vi (PEBM), ghi nhận 54% cha mẹ giảm lo âu và căng thẳng; Mc Cubbin và Partternson (1983) nghiên cứu mẫu hành vi gia đình nhằm đo lường khả năng thích ứng.
  • Về nhu cầu và mô hình tham vấn tâm lý: Michelle A M M van Togerloo và cộng sự (2015) xác định nhu cầu giải tỏa cảm xúc; Susan Senator (2010), Barry M. Prizant (2016), Salli Ozonoff, Geraldine Dawson và James C. khảo sát nhu cầu kỹ năng; Lynn E. Krantz và Gail G. McGee (1982) xây dựng mô hình đào tạo cha mẹ thành người dạy kèm; Symon và Jenifer B. (2005) thiết kế khóa tập huấn giao tiếp 1 tuần; Sally J. Roger và Laurie A. Vismara (2008), Nicolette Nefdt và cộng sự (2010) nghiên cứu mô hình tự học; Pilar Pozo, Encarnacion Sarria và Angeles Brioso (2011) vận dụng mô hình SOC và thang đo kiểm kê nhận thức phụ huynh Kansas (KIPP); Janeen Herskovitz (2015) xác lập 3 định hướng tham vấn giải quyết khủng hoảng và quản lý stress.
  • Về các yếu tố ảnh hưởng: Charnsil và Bathia (2010) nghiên cứu mức độ nghiêm trọng của bệnh; Yeo và Lu (2013) so sánh chi phí trị liệu giữa Trung Quốc và Malaysia; Mohammad A. AL Jabery và cộng sự (2014) khảo sát mức độ hài lòng dịch vụ tại Jordan; nhóm tác giả Malaysia, Úc và Anh (2018) xác định 5 yếu tố ảnh hưởng (hỗ trợ xã hội, độ nghiêm trọng của triệu chứng, kinh tế, nhận thức cha mẹ, lo lắng tương lai).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về khó khăn và can thiệp: Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Nguyễn Thị Mai Lan (2013), Dương Hải Hưng (2015, khảo sát 171 cha mẹ tại Cần Thơ), Phạm Ngọc Thanh (2008 tại Bệnh viện Nhi đồng 1), Nguyễn Thị Như Mai (2010), các tài liệu dịch và biên soạn của Lâm Hiểu Minh, Phạm Toàn (2018), Jean-Noel Christine (Thân Thị Mận dịch, 2016), bộ tài liệu "How to guide" của Autism Aspect Australia (2017).
  • Nghiên cứu về nhu cầu trợ giúp và tham vấn: Nguyễn Võ Tinh Vân (2002, 2006, bộ 3 cuốn sách xuất bản tại Úc), Nguyễn Thị Phương Mai và Vũ Thị Bích Hạnh (2006), Hoàng Trọng Kim và Phạm Ngọc Thanh (2007), Nguyễn Thị Hoàng Yến (2007), Nguyễn Thị Việt Hà (2017), tài liệu của Fren Sussman (2018) và Elizabeth Strickland (2016).
  • Nghiên cứu về chính sách và yếu tố ảnh hưởng: Dương Diệu Hoa và cộng sự (2007), Phạm Thanh Bình (2014), Phạm Văn Tư (2015), Đào Thị Bích Thủy (2016), Đậu Tuấn Nam và Vũ Hải Vân (2015), tài liệu dịch "100 ngày" của Autism Speaks.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vấn đề trẻ tự kỉ dưới góc độ y học hoặc giáo dục đặc biệt, mô tả khó khăn chung mà chưa đi sâu nghiên cứu có hệ thống về nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ, chưa lượng hóa cấu trúc biểu hiện và chưa xây dựng mô hình dự báo mức độ tác động của các nhóm yếu tố ảnh hưởng. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm kết hợp định tính và định lượng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm nhu cầu: Tiếp cận theo quan điểm tâm lý học hoạt động và tâm lý học xã hội (Nguyễn Quang Uẩn, Lê Khanh, Vũ Dũng, Covaliov A. Rubinstein, Erich Fromm và tháp nhu cầu hiệu chỉnh 8 bậc của A. Maslow). Nhu cầu được hiểu là sự đòi hỏi tất yếu khách quan của cá nhân nhằm tồn tại và phát triển.
  • Khái niệm tham vấn tâm lý: Luận án sử dụng định nghĩa của Phạm Thanh Bình (2014): "Tham vấn tâm lý là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng nhằm trợ giúp thân chủ nhận thức được bản thân, vấn đề và nguồn lực của mình để giải quyết vấn đề của mình theo hướng tích cực". Luận án phân định rõ:
    • Tư vấn tâm lý: Hướng đến việc đưa ra lời khuyên, giải đáp thắc mắc mang tính ngắn hạn dựa trên kiến thức của chuyên gia.
    • Trị liệu tâm lý (psychotherapy): Quá trình can thiệp chuyên sâu nhằm điều chỉnh, chữa lành các rối nhiễu hoặc bệnh lý tâm thần.
    • Tham vấn tâm lý: Mối quan hệ tương tác bình đẳng, giúp thân chủ tự nhận thức và giải phóng tiềm năng để tự giải quyết vấn đề.
  • Khái niệm nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ: Là đòi hỏi được tương tác, trao đổi và nhận sự trợ giúp chuyên môn từ nhà tham vấn khi gặp khó khăn tâm lý trong quá trình chăm sóc trẻ tự kỉ, nhằm tìm kiếm giải pháp tháo gỡ khó khăn một cách hiệu quả. Cấu trúc nhu cầu gồm 2 phương diện:
    1. Nhu cầu về nội dung tham vấn: (1) Giải tỏa cảm xúc tiêu cực; (2) Đòi hỏi kiến thức liên quan đến tự kỉ; (3) Kỹ năng chăm sóc trẻ tự kỉ; (4) Đòi hỏi đối xử công bằng, tránh kì thị; (5) Tiếp cận dịch vụ xã hội – giáo dục.
    2. Nhu cầu về hình thức tham vấn: Tham vấn trực tiếp (cá nhân, nhóm, gia đình) và tham vấn gián tiếp (qua thư, email, điện thoại).
  • Khái niệm trẻ tự kỉ: Sử dụng định nghĩa chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2008), kết hợp tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-5 và ICD-10.

Nguyên tắc phương pháp luận

  1. Nguyên tắc hoạt động: Nhu cầu tâm lý nảy sinh, hình thành và bộc lộ thông qua hoạt động thực tiễn chăm sóc, nuôi dạy con của cha mẹ.
  2. Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Xem xét nhu cầu tham vấn trong mối quan hệ đa chiều với các yếu tố tâm lý xã hội (hỗ trợ xã hội, giá trị văn hóa, nhận thức cá nhân).
  3. Nguyên tắc phát triển: Nhìn nhận nhu cầu tâm lý trong trạng thái vận động, biến đổi và tác động tương hỗ với các cấu trúc tâm lý khác của thân chủ.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích tài liệu văn bản.
  • Phương pháp chuyên gia.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát 120 cha mẹ có con bị tự kỉ).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (20 khách thể: 10 phụ huynh, 5 cán bộ tham vấn, 5 giáo viên).
  • Phương pháp quan sát.
  • Phương pháp tham vấn tâm lý thực nghiệm.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study trên 2 người mẹ).
  • Kỹ thuật xử lý thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 23 để tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), so sánh giá trị trung bình (T-test, ANOVA), phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính dự báo.
Nhóm khách thể Số lượng ($N$) Đơn vị / Địa bàn
Khảo sát định lượng (Bảng hỏi) 120 cha/mẹ BV Nhi TW, TT Từng bước nhỏ, TT Tâm An
Phỏng vấn sâu: Cha/Mẹ 10 người 05 BV Nhi TW, 05 TT Từng bước nhỏ
Phỏng vấn sâu: Cán bộ tham vấn 05 người 03 BV Nhi TW, 02 TT Từng bước nhỏ
Phỏng vấn sâu: Giáo viên 05 người 02 TT Từng bước nhỏ, 03 TT Tâm An
Nghiên cứu trường hợp điển hình 02 người mẹ Khách thể có con can thiệp tại cơ sở chuyên biệt

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ

Chương này tổng thuật lịch sử nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh ba trục nội dung: khó khăn tâm lý của cha mẹ nuôi con tự kỉ, nhu cầu và các mô hình tham vấn tâm lý, các yếu tố tác động đến nhu cầu tham vấn. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế đã tiếp cận toàn diện từ đánh giá mức độ căng thẳng, nguy cơ rạn nứt hôn nhân đến việc thử nghiệm các mô hình can thiệp gia đình (mô hình của Krantz & McGee, Symon, Pozo). Ngược lại, tại Việt Nam, các công trình trước năm 2019 chủ yếu dừng lại ở mức mô tả khó khăn lâm sàng hoặc phổ biến kiến thức y học, thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm đo lường nhu cầu tham vấn và các yếu tố ảnh hưởng.

Chương 2: Cơ sở lý luận về nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ

Chương 2 thiết lập hệ thống khái niệm công cụ, xây dựng khung lý thuyết định hướng cho toàn bộ nghiên cứu thực tiễn. Tác giả phân tích nguồn gốc phát sinh nhu cầu tham vấn tâm lý từ những khủng hoảng cảm xúc và áp lực thực tế khi chăm sóc trẻ tự kỉ. Khung phân tích xác định 5 nội dung tham vấn cốt lõi, các hình thức triển khai (trực tiếp, gián tiếp) và mô hình hóa 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng chính:

  1. Mức độ hỗ trợ xã hội (sự trợ giúp từ gia đình, cộng đồng, chính sách);
  2. Các giá trị văn hóa – xã hội (chuẩn mực văn hóa, định kiến, áp lực kì thị);
  3. Nhận thức của cha mẹ về tham vấn tâm lý (sự hiểu biết về mục đích, vai trò và quy trình tham vấn).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu, xây dựng bảng hỏi, thiết lập bảng tiêu chí quan sát và khung phỏng vấn sâu. Tác giả mô tả chi tiết đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu ($N = 120$), kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha, xác định quy chuẩn đánh giá điểm trung bình cho từng thang đo và kiểm soát tính đại diện của mẫu tại 3 địa bàn (Hà Nội và Hải Phòng). Quy trình xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 23 được mô tả chặt chẽ từ thống kê mô tả đến thống kê suy luận.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ

Chương 4 phân tích dữ liệu thực nghiệm thu được từ khảo sát, phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp:

  • Đánh giá chung: Toàn bộ 100% cha mẹ tham gia khảo sát đều gặp khó khăn tâm lý trong quá trình nuôi dạy con và có nhu cầu tham vấn tâm lý ở mức độ tương đối.
  • Thực trạng các mặt biểu hiện về nội dung tham vấn:
    • Nhu cầu giải tỏa cảm xúc tiêu cực và nhu cầu tiếp cận dịch vụ xã hội – giáo dục đạt mức độ cao nhất.
    • Tiếp theo là nhu cầu đòi hỏi kiến thức liên quan đến tự kỉ và kỹ năng chăm sóc trẻ.
    • Nhu cầu đòi hỏi đối xử công bằng, tránh kì thị có điểm trung bình thấp nhất trong 5 nội dung.
  • Biểu hiện về hình thức tham vấn: Hình thức tham vấn trực tiếp (tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình, tham vấn nhóm) được phụ huynh ưu tiên lựa chọn cao hơn đáng kể so với hình thức tham vấn gián tiếp (qua thư từ, điện thoại, internet).
  • So sánh theo biến độc lập: Phân tích so sánh giá trị trung bình chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hoàn cảnh sống: nhóm cha mẹ đang sống cùng nhau có mức độ nhu cầu tham vấn tâm lý cao hơn nhóm cha mẹ đang sống đơn thân (một mình chăm sóc con).
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng:
    • Khi xem xét các yếu tố độc lập đơn nhất: Yếu tố Mức độ hỗ trợ xã hội có tương quan thuận và tác động mạnh nhất đến mức độ nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ ($p < 0,05$).
    • Khi xem xét theo mô hình hồi quy đa biến: Cụm các yếu tố kết hợp (hỗ trợ xã hội, giá trị văn hóa xã hội và nhận thức của cha mẹ) thể hiện năng lực giải thích và mức dự báo sự thay đổi nhu cầu tham vấn tâm lý mạnh hơn so với từng yếu tố riêng lẻ.
  • Phân tích 02 trường hợp điển hình (Case study): Minh họa chi tiết diễn biến cảm xúc từ giai đoạn khủng hoảng, chối bỏ đến khi chấp nhận thực tế, làm rõ nhu cầu được nâng đỡ tâm lý và hướng dẫn kỹ năng tương tác với trẻ trong môi trường gia đình.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về nhu cầu tham vấn tâm lý của nhóm thân chủ đặc thù là cha mẹ có con bị tự kỉ trong điều kiện văn hóa – xã hội Việt Nam.
  • Xây dựng và chuẩn hóa khung lý thuyết gồm 2 biểu hiện cấu thành (nội dung tham vấn với 5 nhóm vấn đề; hình thức tham vấn với 2 phương thức) và xác lập các tiêu chí đo lường nhu cầu tham vấn tâm lý.
  • Bổ sung cơ sở dữ liệu lý luận cho chuyên ngành Tâm lý học ứng dụng, Tâm lý học lâm sàng và Tâm lý học gia đình.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phản ánh bức tranh thực trạng về khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của 120 phụ huynh tại Hà Nội và Hải Phòng, xác định thứ bậc ưu tiên trong nhu cầu trợ giúp (giải tỏa cảm xúc và tiếp cận dịch vụ xã hội – giáo dục là cấp thiết nhất).
  • Xác định tác động của hoàn cảnh sống (sống cùng nhau so với sống đơn thân) và chứng minh vai trò dự báo của cụm yếu tố tâm lý – xã hội đối với nhu cầu tham vấn.
  • Cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ sở y tế, trung tâm can thiệp sớm trong việc thiết kế các khóa tập huấn, xây dựng quy trình tham vấn chuyên biệt cho phụ huynh trẻ tự kỉ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, xác định tự kỉ là một dạng khuyết tật cụ thể trong văn bản pháp luật để làm căn cứ hỗ trợ bảo hiểm, giáo dục hòa nhập và giảm gánh nặng kinh tế cho gia đình.
  • Đối với các cơ sở đào tạo và hiệp hội nghề nghiệp: Chuẩn hóa chương trình đào tạo kỹ năng tham vấn chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ tâm lý; phân định rõ hoạt động tham vấn và tư vấn.
  • Đối với các cơ sở can thiệp và bệnh viện: Thiết lập phòng tham vấn tâm lý dành riêng cho cha mẹ ngay tại cơ sở trị liệu của trẻ; triển khai các chương trình tham vấn nhóm và tham vấn gia đình song song với quá trình trị liệu cho trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khách thể khảo sát chủ yếu tập trung vào người mẹ do đặc thù phân công chăm sóc trong gia đình Việt Nam, chưa thu thập được mẫu số lượng tương đương từ người cha để so sánh đa chiều.
    • Địa bàn nghiên cứu mới thực hiện tại 3 cơ sở thuộc Hà Nội và Hải Phòng, chưa mở rộng ra các tỉnh miền Trung và miền Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát trên quy mô toàn quốc với cỡ mẫu lớn hơn, đa dạng hóa tầng lớp xã hội và vùng địa lý.
    • Triển khai các nghiên cứu thực nghiệm dài hạn nhằm đo lường hiệu quả cụ thể của từng mô hình tham vấn (cá nhân, nhóm, gia đình) đối với sự biến đổi tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỉ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp hệ thống y văn chi tiết, khung phương pháp luận kết hợp định tính – định lượng và bộ công cụ đo lường độ tin cậy cao phục vụ nghiên cứu tâm lý học lâm sàng và công tác xã hội.
  • Đối với chuyên viên tham vấn và trị liệu tâm lý: Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng về 5 nhóm nội dung và các hình thức tham vấn ưu tiên, hỗ trợ lập kế hoạch trợ giúp thân chủ là phụ huynh có con rối loạn phổ tự kỉ.
  • Đối với nhà quản lý giáo dục và an sinh xã hội: Cung cấp bằng chứng thực tế về các rào cản xã hội và nhu cầu tiếp cận dịch vụ giáo dục, làm căn cứ xây dựng các chương trình can thiệp dựa vào cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể và địa bàn khảo sát thực tiễn của luận án được tổ chức như thế nào?

Luận án khảo sát tổng số 130 khách thể tại 3 địa bàn: Khoa Tâm bệnh học – Bệnh viện Nhi Trung ương, Trung tâm Từng bước nhỏ (Hải Phòng) và Trung tâm can thiệp Tâm An (Hà Nội). Mẫu định lượng gồm 120 cha mẹ; mẫu phỏng vấn sâu gồm 20 người (10 phụ huynh, 5 cán bộ tham vấn, 5 giáo viên); mẫu nghiên cứu trường hợp gồm 2 người mẹ. Tất cả các trường hợp trẻ đều có chẩn đoán y khoa xác định mắc chứng tự kỉ.

2. Thứ bậc ưu tiên về nội dung tham vấn tâm lý của cha mẹ được ghi nhận ra sao?

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng nhu cầu giải tỏa cảm xúc tiêu cực và nhu cầu tiếp cận dịch vụ xã hội – giáo dục đạt mức độ cao nhất. Nhu cầu bổ sung kiến thức về tự kỉ và kỹ năng chăm sóc trẻ xếp ở vị trí tiếp theo. Nhu cầu về việc đòi hỏi đối xử công bằng, tránh kì thị có điểm đánh giá thấp nhất trong 5 nội dung khảo sát.

3. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ?

Khi phân tích các yếu tố độc lập đơn nhất, yếu tố Mức độ hỗ trợ xã hội là yếu tố có tương quan thuận và ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu tham vấn tâm lý của cha mẹ. Khi kết hợp các yếu tố (hỗ trợ xã hội, giá trị văn hóa xã hội, nhận thức của cha mẹ), mô hình cụm yếu tố cho năng lực dự báo sự thay đổi nhu cầu tham vấn cao hơn so với từng yếu tố riêng lẻ.

4. Tình trạng sống của cha mẹ tác động như thế nào đến mức độ nhu cầu tham vấn?

Phân tích so sánh giá trị trung bình giữa mức độ nhu cầu với các biến độc lập cho thấy: nhóm cha mẹ hiện đang sống cùng nhau có mức độ nhu cầu tham vấn tâm lý cao hơn so với nhóm cha mẹ đang sống đơn thân, một mình chăm sóc con bị tự kỉ.

5. Luận án phân biệt tham vấn tâm lý với tư vấn và trị liệu tâm lý dựa trên cơ sở nào?

Luận án xác định tư vấn là hoạt động đưa ra lời khuyên, giải đáp thắc mắc ngắn hạn dựa trên kinh nghiệm chuyên gia; trị liệu tâm lý (psychotherapy) là quá trình can thiệp chuyên sâu nhằm chữa trị các rối nhiễu và bệnh lý tâm thần; trong khi tham vấn tâm lý là một quá trình tương tác trợ giúp bình đẳng, trong đó nhà tham vấn sử dụng kỹ năng để giúp thân chủ tự nhận thức nguồn lực và nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của chính mình.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp các bằng chứng thực nghiệm khẳng định 100% cha mẹ có con bị tự kỉ trong mẫu nghiên cứu đều gặp khó khăn tâm lý và có nhu cầu tham vấn tâm lý rõ rệt. Nghiên cứu xác lập cấu trúc nhu cầu gồm 5 nội dung tham vấn (trong đó nhu cầu giải tỏa cảm xúc và tiếp cận dịch vụ xã hội – giáo dục chiếm ưu tiên cao nhất) cùng xu hướng lựa chọn hình thức tham vấn trực tiếp. Công trình đã chứng minh vai trò chi phối của yếu tố hỗ trợ xã hội và cụm yếu tố tâm lý – xã hội đối với nhu cầu tham vấn, đồng thời cung cấp căn cứ khoa học xác đáng cho việc hoàn thiện chính sách trợ giúp và phát triển dịch vụ tham vấn chuyên nghiệp cho gia đình trẻ tự kỉ tại Việt Nam.