CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA CHA MẸ CÓ CON CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 1. Nhu cầu tham vấn tâm lí 1. Khái niệm về nhu cầu Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S.
Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Có nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu.Daparogiet cho rằng “Nhu cầu là sự phản ánh vào óc người sự cần thiết mà người đó cảm thấy đối với một vật thể nào đó. Nhu cầu kích thích con người hành động, buộc con người phải vươn tới một đối tượng nhất định” [Dẫn theo 29].Leonchiev thì cho rằng, “Nhu cầu là một trạng thái của con người, cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng, con người nói chung sống và hoạt động [Dẫn theo 29].Maslow đã cho rằng nhu cầu và sự phát triển của con người theo một chuỗi liên tiếp từ thấp đến cao, theo ông, sau khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì nảy sinh đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn [Dẫn theo 29, tr. Uznetze người đầu tiên trong tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu cầu.
Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Tương ứng theo mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. Ông cho rằng: Nhu cầu là yếu tố đặc trưng cho cở thể sống, là cội nguồn của tính tích cực và nó phát triển tương ứng với sự phát triển của con người. khi có một nhu cầu cụ thể nào đó xuất hiện, chủ thể hướng sức lực của mình vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu đó sự chiếm lĩnh ưu thế của nhu cầu cấp cao hay cấp thấp ở mỗi các nhân là do điều kiện sống, điều kiện giáo dục, phụ thuộc vào sự ấn tượng, sự thể nghiệm mà con người thấy có ý nghĩa [Dẫn theo 26].
Trong từ điển Tâm lý học tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa, “Nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân” [2].Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà 12 con người cảm thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [ 29, tr. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu nhưng có thể nhận định khái quát về nhu cầu như sau: Nhu cầu là nguyên nhân khởi đầu cho các hành động khác nhau của con người, với tư cách là một hiện tượng tâm lý, nhu cầu chi phối mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hoạt động của con người nói riêng. Nhu cầu là yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân, trẻ em có nhu cầu khác nhau với người lớn, nhu cầu ở nam giới khác nữ giới, nhu cầu của người tri thức khác với người nông dân lao động và ở những vùng miền do điều kiện phát triển khác nhau thì mức độ nhu cầu khác nhau. Nhu cầu của con người luôn gắn với hoạt động.
Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu là sức mạnh nội tại, là động lực thúc đẩy con người hoạt động, điều chỉnh hành vi, tạo nên tính tích cực bên trong của mỗi cá nhân nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Dựa vào cơ sở lý luận của nhu cầu được trình bày ở trên, theo chúng tôi: “ Nhu cầu là một thuộc tính của nhân cách, biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần phải được thỏa mãn trong điều kiện nhất định có thể tồn tại và phát triển”. Vai trò của nhu cầu Nhu cầu được xem là nguồn gốc bên trong tao nên tính tích cực nhận thức của con người, là động cơ thúc đẩy của con người, là động cơ thực sự của cá nhân. Chính nhu cầu thúc đẩy con người tích cực hoạt động, tạo nên những điều kiện, những phương tiện tương ứng để thỏa mãn đỏi hỏi của mình.
Nhu cầu là biểu hiện dầu tiên của tính tích cực cá nhân, nó có tác dụng xác định xu hướng của cá nhân, xác định thái độ của người đó đối với hiện thực và đối với bản thân, xét đến cùng nó xác định lối sống và hoạt động của cá nhân. Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động. Như vậy các nhu cầu của con người được thể hiện ở chủ thể dưới dạng ước ao, chính nó điều chỉnh hoạt động của con người, làm xuất hiện các hoạt động của con người. Đặc điểm của nhu cầu - Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng.
13 + Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó cụ thể, cũng là sự đòi hỏi để thoả mãn nhu cầu nhưng ban đầu đối tượng có thể chưa cụ thể, chưa rõ ràng + Đối tượng của nhu cầu ở những người khác nhau là khác nhau. + Chính tính đối tượng của nhu cầu đã thúc đẩy con người hoạt động và sáng tạo ra thế giới đối tượng để thỏa mãn những nhu cầu này ngày càng cao của con người. - Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định + Chính điều kiện sống quy định nội dung đối tượng của nhu cầu hay nói cách khác nhu cầu là sự phản ánh những điều kiện sống. + Nội dung của nhu cầu do điều kiện thỏa mãn nó quy định.
Điều kiện thỏa mãn nhu cầu của con người nằm trong xã hội, do đó nhu cầu của con người mang tính xã hội. + Nội dung cụ thể của nhu cầu còn phụ thuộc vào phương thức thỏa mãn C.Mác đã từng nói: “ Đói là đói, song cái đói được thỏa mãn bằng thịt chín với cách dùng bằng dao và dĩa thì khác với cái đói buộc phải nuốt bằng thịt sống với dùng tay, móng và răng ”. - Nhu cầu của con người có tính chu kỳ. + Khi một nhu cầu được thỏa mãn, không có nghĩa là nhu cầu ấy chấm dứt mà nó tiếp tục tái diễn, nếu người ta vẫn còn sống và phát triển trong điều kiện và phương thức sinh hoạt như cũ.
Sự tái diễn đó thường mang tính chu kỳ. Tính chu kỳ này do sự biến đổi có tính chu kỳ của hoàn cảnh xung quanh và trạng thái của cơ thể gây ra. - Nhu cầu của con người mang bản chất xã hội: nhu cầu của con người khác xa về chất so với con vật [29, tr. Các mức độ của nhu cầu Mức độ của nhu cầu được thể hiện tăng dần, từ ý hướng lên ý muốn và cuối cùng là ý định.
+ Ý hướng: ý hướng là khởi đầu của nhu cầu. Ở mức độ này nhu cầu chưa được phản ánh đầy đủ, rõ ràng vào trong ý thức của con người. + Ý muốn: ý muốn là mức độ cao hơn của nhu cầu so với ý hướng. Ở đây, chủ thể đã ý thức được đối tượng chứa đựng khản năng thỏa mãn nhu cầu, mục đích của hành động thảo mãn nhu cầu.
14 + Ý định: ý định là mức độ cao nhất của nhu cầu, lúc này chủ thể đã ý thức đầy đủ cả về đối tượng cũng như cách thức điều kiện nhằm thỏa mãn nhu cầu, xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hành động, 1. Tham vấn tâm lý 1. Khái niệm tham vấn tâm lý Tham vấn ( Counseling Psychology) là một thuật ngữ không còn xa lạ ở Việt Nam trong khoảng 10-15 năm lại đây, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau liên quan tới thuật ngữ này. Không riêng gì ở Việt Nam mà tại các nước phương Tây và Bắc Mỹ, thuật ngữ tham vấn cũng được hiểu ở nhiều mức độ khác nhau.
Đôi khi nó chỉ là những hoạt động của người giúp đỡ thông thường, hoặc của tình nguyện viên, họ được xem là người làm trợ giúp. Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ (ACA, 1997) cho rằng: Tham vấn là sự áp dụng nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiếm lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi, tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển các nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề về bệnh lý [3, tr. Theo như NAPS – hội tâm lý học Mỹ định nghĩa: “tham vấn tâm lý là một quá trình giúp cá nhân khắc phục nhũng trở ngại tâm lý có thể gặp trong quá trình trưởng thành, khiến con nguời phát triển một cách lý tưởng” [ 17] Theo tổ chức tham vấn tâm lý thế giới, tham vấn là: “Tham vấn một quá trình trợ giúp dựa trên các kỹ năng, trong đó, một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai các giải pháp khả thi trong mọt thời gian cho phép [20, tr. Như vậy, có thể nói rằng, các nhà tâm lý học nước ngoài có nhiều quan điểm khác nhau về tâm lý, tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi đồng ý với quan điểm về cách tiếp cận của Mielke J (1999).
Ông cho rằng: yếu tố tâm lý là động cơ rõ rệt thúc đẩy con người tìm đến tham vấn [ 3, tr. Không chỉ ở nước ngoài, ở Việt Nam, tham vấn đã được rất nhiều các nhà tâm lý học quan tâm và nghiên cứu cũng như đưa ra nhiều khái niệm khác nhau. Theo như tác giả Trần Thị Minh Đức định nghĩa (2011): “Tham vấn là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có phẩm chất đạo đức của nhà tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách 15 hàng – người đang có khó khăn về tâm lý muốn được giúp đỡ). Thông qua các kĩ năng trao đổi và chia sẻ tâm tình (dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính chất chuyên nghiệp) thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng của bản thân để giải quyết các vấn đề của chính mình”.
Thuật ngữ “tham vấn” miêu tả một cách chính xác nhất bản chất của nghề là trợ giúp người khác khi gặp khó khăn chứ không hướng họ theo cách giải quyết của nhà tham vấn [3, tr.