Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Tổng hợp kiến thức Nhu cầu học tập của sinh viên Khmer tại Đồng bằng sông ..., tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

207
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU HỌC TẬP

1.1. Nghiên cứu về nhu cầu

1.2. Nghiên cứu về nhu cầu học tập

1.3. Nghiên cứu về nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER

2.1. Nhu cầu học tập

2.2. Sinh viên người Khmer

2.3. Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER

3.1. Tổ chức nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Thang đánh giá nhu cầu học tập

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

4.1. Thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long

4.2. Thực trạng tương quan các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long

4.3. Nghiên cứu trường hợp điển hình

4.4. Biện pháp tác động tâm lý nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhu cầu học tập của sinh viên Khmer

Nhu cầu học tập của sinh viên Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh phát triển giáo dục hiện nay. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhu cầu học tập không chỉ là động lực thúc đẩy cá nhân mà còn là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của cộng đồng. Theo các chuyên gia, nhu cầu học tập của sinh viên Khmer thể hiện rõ qua việc họ nhận thức được sự thiếu hụt tri thức và kỹ năng cần thiết cho tương lai. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những chương trình giáo dục phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu này. Đặc biệt, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi có nhiều sinh viên Khmer theo học.

1.1. Đặc điểm văn hóa Khmer và ảnh hưởng đến nhu cầu học tập

Văn hóa Khmer có những đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên. Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại tạo ra những thách thức trong việc tiếp cận tri thức mới. Sinh viên Khmer thường gặp khó khăn trong việc hòa nhập với môi trường học tập do rào cản ngôn ngữ, đặc biệt là khi ngôn ngữ Khmer không được sử dụng phổ biến trong các chương trình giảng dạy. Điều này dẫn đến việc sinh viên không thể thỏa mãn nhu cầu học tập của mình một cách hiệu quả. Hơn nữa, sự thiếu hụt về thông tin và cơ hội học tập cũng là một yếu tố cản trở sự phát triển của sinh viên Khmer trong môi trường giáo dục hiện đại.

II. Thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên Khmer

Thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo khảo sát, nhiều sinh viên chưa nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc học tập và phát triển bản thân. Mặc dù có sự quan tâm từ phía nhà nước và các tổ chức giáo dục, nhưng kết quả học tập của sinh viên Khmer vẫn còn thấp. Chỉ một tỷ lệ nhỏ sinh viên đạt được kết quả học tập tốt, trong khi phần lớn còn lại gặp khó khăn trong việc thỏa mãn nhu cầu học tập của mình. Điều này cho thấy cần có những biện pháp can thiệp kịp thời để nâng cao nhu cầu giáo dục cho sinh viên Khmer.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập

Nhu cầu học tập của sinh viên Khmer bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm tình hình xã hội, gia đình, và hệ thống giáo dục. Các yếu tố này không chỉ tác động đến động lực học tập mà còn ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin và cơ hội học tập. Nhiều sinh viên Khmer cho biết họ cảm thấy áp lực từ gia đình trong việc học tập, nhưng đồng thời cũng thiếu sự hỗ trợ cần thiết từ phía nhà trường. Điều này dẫn đến việc sinh viên không thể phát huy hết tiềm năng của mình trong học tập. Hơn nữa, sự thiếu hụt về cơ sở vật chất và tài nguyên học tập cũng là một rào cản lớn đối với sinh viên Khmer.

III. Biện pháp nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên Khmer

Để nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên Khmer, cần có những biện pháp cụ thể và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện hệ thống giáo dục để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sinh viên. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của sinh viên Khmer. Bên cạnh đó, việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hội thảo và chương trình tư vấn học tập cũng rất cần thiết để khuyến khích sinh viên tham gia học tập tích cực hơn. Các biện pháp này không chỉ giúp sinh viên Khmer nâng cao kiến thức mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự phát triển toàn diện.

3.1. Tăng cường hỗ trợ tâm lý cho sinh viên

Hỗ trợ tâm lý cho sinh viên là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao nhu cầu học tập. Các trường đại học cần xây dựng các chương trình tư vấn tâm lý để giúp sinh viên vượt qua những khó khăn trong học tập. Việc tạo ra một môi trường học tập thân thiện, nơi sinh viên cảm thấy được lắng nghe và hỗ trợ sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc học tập. Đồng thời, các hoạt động giao lưu văn hóa cũng nên được tổ chức để sinh viên Khmer có cơ hội giao lưu, học hỏi và phát triển kỹ năng xã hội. Điều này không chỉ giúp sinh viên cải thiện kết quả học tập mà còn góp phần xây dựng một cộng đồng học tập tích cực.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ tâm lý học nhu cầu học tập của sinh viên người khmer vùng đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU HỌC TẬP 1.1 Nghiên cứu về nhu cầu 1. Nghiên cứu nhu cầu được xem xét gắn với bản năng Các nhà tâm lý học phương Tây xem xét nhu cầu gắn với bản năng đồng thời có sự phân biệt nhu cầu bản năng của con người và nhu cầu bản năng của động vật. Đại diện cho xu hướng này có các tác giả như: W.E Miller, Freud (1856 – 1939), Mc.E Miller dựa vào hành vi của động vật để lý giải nhu cầu và cho rằng nhu cầu quyết định hành vi. Khi xem xét hành vi của động vật Thorndike cho rằng “sự thỏa mãn”, “không thỏa mãn” và “sự khó chịu” đều liên quan đến hành vi.

Trên cơ sở đó ông khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi. Freud và Mc. Dougall quan niệm bản năng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hoạt động. Mọi nhu cầu của con người, đặc biệt là nhu cầu tình dục được thỏa mãn bằng nhiều cách (hiện thực, giấc mơ).

Hull chỉ ra rằng nền tảng của động cơ hành vi là nhu cầu của cơ thể xuất hiện do sự lệch lạc điều kiện sinh học tối ưu. Theo Erich Fromm thì tất cả mọi người đều có 5 nhu cầu cơ bản: họ hàng (thiết lập mối quan hệ tích cực và tiếp diễn với người khác), tính siêu nhiên (nhận thức về khả năng và tiềm năng của bản thân dẫn tới năng suất sáng tạo của cá nhân), cội nguồn (nhu cầu về mối quan hệ liên tục và có ý nghĩa với cả môi trường xung quanh lẫn quá khứ), ý thức về bản sắc (khao khát muốn biết mình là ai và có vai trò gì trong xã hội) và hệ quy chiếu (nhu cầu tạo nên trật tự của nhận thức từ một thế giới của sự hỗn loạn khác). Maslow cho rằng trong quá trình 9 phát triển của cá nhân, các nhu cầu này có quan hệ với nhau theo kiểu dạng tháp. Mặc dù ông đã chỉ ra nhu cầu của con người bao gồm nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội nhưng những lý giải của ông về thứ bậc nhu cầu và đặt nhu cầu của cá nhân nằm ngoài mối liên hệ xã hội nên luận thuyết về nhu cầu của Maslow còn nhiều điểm cần bàn luận.

Murray (1938) khẳng định nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi. Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về các cấp độ tùy vào từng giai đoạn phát triển của nhân cách. Ông đã đưa ra bảng phân loại nhu cầu của con người gồm 20 nhu cầu (1.nhu cầu chiếm ưu thế, 2. tìm kiếm các mối quan hệ bạn bè, 4.

bỏ rơi người khác, 5. phục tùng thụ động, 7. về sự tôn trọng, ủng hộ, 8. trở thành trung tâm của sự chú ý, 10.

cần tìm người bảo trợ, 14. giúp người; 15. tránh bị trách phạt; 16. vượt qua những thất bại; 18.

ngăn nắp, trật tự; 20. Trong đó Murray chia các nhu cầu thành hai loại là nhu cầu nguyên phát và nhu cầu thứ phát. Nhu cầu phóng ra các kiểu hành vi nhất định mang lại sự thỏa mãn cần tìm. Bất kỳ nhu cầu nào cũng gây ra trong cơ thể sự căng thẳng nhất định, mà việc giải tỏa nó chỉ bằng cách thỏa mãn nhu cầu [129], [71], [114].

Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu nhu cầu theo khuynh hướng xem nhu cầu gắn với bản năng đã thừa nhận vai trò của nhu cầu, phân biệt nhu cầu của con người và nhu cầu của con vật và đưa ra hệ thống nhu cầu cụ thể ở con người. Tuy nhiên, các tác giả chỉ mới mô tả và lý giải nhu cầu của con người liên quan đến bản năng. Các tác giả chưa chỉ ra nhu cầu bản năng của con người khác biệt về chất so với nhu cầu bản năng của của động vật. Nhu cầu của con người bao giờ cũng chịu sự quy định của điều kiện lịch sử xã hội.

Con người sống trong hoàn cảnh xã hội khác nhau, trình độ nhận thức khác nhau, vị thế xã hội khác nhau thì có những nhu cầu khác nhau. Nghiên cứu nhu cầu được xem xét dưới góc độ nhu cầu là nguồn gốc là động lực của tính tích cực cá nhân Đại diện cho xu hướng giải thích nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động của cá nhân có các tác giả như: D.Axeev, Phạm Minh 10 Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức và một số tác giả khác. Uznatze cho rằng nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng và nhu cầu là yếu tố quyết định tính tích cực của con người [87, tr143].Kovaliov thì cho rằng nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của cá nhân và các nhóm xã hội do họ nhận thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Theo ông, một nhu cầu khách quan nào đó trước khi trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của con người đã được con người ý thức [32, tr187 – 188], [9, tr110], [4, tr223-224].Rubinstein chỉ ra các mức độ của nhu cầu (ý hướng tính tích cực thấp; ý muốn tính tích cực cao hơn; ý định tính tích cực cao nhất) [32, 183 – 184].

Leonchive chỉ ra hai cấp độ của nhu cầu. Ở cấp độ thứ nhất nhu cầu là trạng thái tâm lý bên trong, là điều kiện bắt buộc của hoạt động. Nó thể hiện trạng thái thiếu thốn của cơ thể. Nhưng do chưa có đối tượng thỏa mãn, nên cấp độ này nhu cầu chỉ có khả năng phát động sức mạnh của các chức năng tâm lý và tạo ra sự kích thích chung.

Kết quả dẫn đến sự tìm tòi vô định hướng. Ở cấp độ thứ hai nhu cầu “gặp” đối tượng. Ở cấp độ này nhu cầu có khả năng kích thích, hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động theo một hướng rõ ràng, hướng đến đối tượng thỏa mãn nhu cầu. Từ luận điểm trên cho thấy, nhu cầu theo đúng nghĩa phải gắn liền với đối tượng của hoạt động.

Nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó. Cái gì đó có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan vì vậy nhu cầu của cá nhân chỉ có thể gặp đối tượng khi tham gia hoạt động. Ông mô tả nguồn gốc của nhu cầu cũng như mối quan hệ của nó với hoạt động bằng sơ đồ: hoạt động – nhu cầu – hoạt động. Luận điểm này phù hợp với quan niệm của Mác về nhu cầu – nhu cầu của con người được sản xuất trong hoạt động [32, tr184-187], [9, tr111], [64 tr31].Gontrancov xem nhu cầu là cốt lõi của nhân cách và khả năng thỏa mãn nó phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị của chủ thể.

Chủ thể cần trang bị thông tin có liên quan đến khả năng thỏa mãn nhu cầu, kết hợp với trạng thái tâm lý của chủ thể để tạo thành tâm thế làm tăng năng lượng của nhu cầu [30, tr10].Ximonov thì cho rằng đặc điểm của nhân cách phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức thỏa mãn nhu cầu. Nếu như trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt thông tin về khả năng thỏa mãn nó sẽ nảy sinh 11 những rung cảm âm tính, phát triển năng lượng nhu cầu tuy nhiên kết quả hành vi lại không thuận lợi. Ngược lại, những rung cảm dương tính làm giảm tập hợp hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu.A Xmirnov cho rằng nhu cầu của con người được thể hiện dưới dạng các ước ao và ý hướng của chủ thể. Các ước ao, ý hướng đó mang ý nghĩa báo hiệu sự xuất hiện của nhu cầu hay sự thỏa mãn của nhu cầu, nhờ vào nó mà chủ thể điều chỉnh hoạt động của bản thân làm cho hoạt động ấy xuất hiện, tăng cường hay làm yếu nó đi [9, tr111].

Ruđich quan niệm “nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta thấy một sự cần thiết nhất định nào đó về một điều gì đó” [80, tr331].Lomov xem xét nhu cầu như là một thuộc tính căn bản của nhân cách “nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình” [9, tr112].Axeev đưa ra quan điểm xúc cảm giá trị là lực thúc đẩy hành động tích cực [32, 216 - 234]. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức và các tác giả khác tuy có cách trình bày về nhu cầu khác nhau nhưng đều thống nhất vấn về nhu cầu ở một số khía cạnh như: khái niệm nhu cầu, phân loại nhu cầu, vai trò của nhu cầu. Các tác giả chủ yếu dựa trên quan điểm của tâm lý học hoạt động khi xem xét nhu cầu với tư cách là thành tố trong xu hướng của nhân cách, là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động của con người “nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó.

Dần dần nó được cá nhân nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về ý nghĩa của nó đối với sự tồn tại và phát triển của mình. Lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động nhằm mục đích thỏa mãn chính nhu cầu này. Nhờ vậy trong sự gắn bó với thế giới xung quanh, con người không phụ thuộc vào thế giới đó một cách thụ động, mà trái lại trong mối quan hệ này con người xuất hiện như một chủ thể hành động tích cực và sáng tạo” [22], [34, tr266], [102]. Ngoài ra các bài báo viết về nhu cầu được đăng trên các bài báo, tạp chí khoa học.

Ngô Công Hoàn (2005) nghiên cứu nhu cầu đối với sự hình thành 12 hành vi đạo đức ở trẻ em lứa tuổi mầm non [44, tr5-11]. Hoàng Trần Doãn (2006) nghiên cứu các cấp độ nhu cầu điện ảnh [20, tr59-63]. Nguyễn Thị Liên (2007) đề cập đến nhu cầu được tư vấn sức khỏe sinh sản của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội [59, tr53-57]. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2008) chú ý đến nhu cầu bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý của cán bộ xã [68, tr37-41].

Trần Hữu Luyến (2008) quan tâm đến nhu cầu học ngoại ngữ ở trường trung học phổ thông những năm đổi mới tại một số tỉnh thành đồng bằng Bắc Bộ [65, tr11-17]. Nguyễn Phương Huyền (2008) tìm hiểu nhu cầu thẩm mỹ của sinh viên sư phạm trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho họ [48, tr23-26].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhu cầu học tập của sinh viên Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long" khám phá những thách thức và cơ hội mà sinh viên Khmer đang đối mặt trong quá trình học tập tại khu vực này. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển chương trình giáo dục phù hợp với nhu cầu văn hóa và ngôn ngữ của sinh viên Khmer, từ đó giúp họ tiếp cận tri thức và nâng cao khả năng cạnh tranh trong xã hội hiện đại. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình giáo dục mà còn gợi ý các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng học tập cho sinh viên Khmer.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục và phương pháp giảng dạy, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh, nơi trình bày các kỹ thuật giảng dạy hiệu quả cho học sinh. Ngoài ra, bài viết về Luận văn thạc sĩ dạy học viết sáng tạo cho học sinh tiểu học cũng sẽ cung cấp những phương pháp sáng tạo trong giảng dạy, giúp nâng cao khả năng tư duy của học sinh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs, một tài liệu hữu ích cho việc phát triển tư duy toán học trong giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp giáo dục hiện đại và cách thức áp dụng chúng trong thực tiễn.