Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích Phượng (văn bản ghi nhận chữ ký Nguyễn Thị Hải tại phần Lời cam đoan và Lời cảm ơn), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Huỳnh Văn Sơn. Công trình được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2018, chuyên ngành Tâm lý học, mã số 9.01.
Về tính cấp thiết của đề tài, tác giả luận án xác định nhu cầu là một thành tố tâm lý quan trọng thúc đẩy tính tích cực trong hoạt động của con người nói chung và hoạt động học tập nói riêng. Theo định nghĩa được tác giả trích dẫn từ Từ điển Tâm lý học, nhu cầu được hiểu là trạng thái của cá nhân xuất phát từ việc nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình, đóng vai trò là nguồn gốc của tính tích cực cá nhân. Trong hoạt động đào tạo nghề nghiệp tại trường đại học, nhu cầu học tập là động lực thúc đẩy tính tích cực nhận thức. Mức độ bức thiết của nhu cầu thể hiện qua việc người học nhận thức được sự thiếu hụt tri thức, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp, nhận thức được ý nghĩa của các yếu tố này đối với bản thân và xác định phương thức thỏa mãn chúng thông qua hoạt động học tập.
Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bào Khmer có quy mô dân số khoảng 1,2 triệu người, chiếm tỷ trọng đa số trong các dân tộc thiểu số tại địa bàn. Theo số liệu khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Miền Nam năm 2012, trong số 1.778 người dân tộc thiểu số được điều tra, người Khmer chiếm 86,843%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động người Khmer qua đào tạo còn thấp. Dẫn liệu từ Tổng cục Thống kê năm 2015 cho thấy tỷ lệ người Khmer biết đọc, biết viết chữ phổ thông đạt 73%, song tỷ lệ người lao động từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo từ trình độ sơ cấp nghề đến đại học trở lên chỉ đạt 3,5%. Nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói và phát triển nguồn nhân lực, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách như Chương trình 135, Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg, Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2016 (đặt mục tiêu đến năm 2020 số sinh viên người dân tộc thiểu số đạt 130 đến 150 sinh viên trên một vạn dân, tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số qua đào tạo nghề đạt trên 30% và nâng lên 50% vào năm 2030) cùng Nghị quyết số 57/2017/NQ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017.
Trong bối cảnh quy mô sinh viên Khmer theo học tại các trường đại học khu vực tăng lên (chẳng hạn năm 2017 tại Trường Đại học Cần Thơ có khoảng 1.753 sinh viên Khmer), kết quả học tập của đối tượng này còn nhiều hạn chế. Kết quả điều tra ban đầu của tác giả trên 341 sinh viên Khmer cho thấy chỉ có 38 sinh viên đạt loại xuất sắc và giỏi (chiếm 10,9%), trong khi 304 sinh viên (chiếm 89,1%) đạt kết quả từ loại khá trở xuống. Tác giả chỉ ra rằng nguyên nhân cốt lõi là sinh viên chưa hình thành được động lực thúc đẩy từ bên trong, tức nhu cầu học tập chưa đủ mạnh, chưa nhận thức rõ sự thiếu hụt tri thức và phương thức thỏa mãn, đồng thời gặp rào cản ngôn ngữ khi tiếng Việt không phải tiếng mẹ đẻ.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào tình trạng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học, kết quả học tập thấp hoặc khó khăn trong thích ứng tâm lý nói chung. Chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện và có hệ thống về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long trên cả hai phương diện: mức độ bức thiết và mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu, cũng như kiểm chứng các biện pháp tác động tâm lý sư phạm nhằm nâng cao nhu cầu này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất và thực nghiệm các biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao nhu cầu học tập cho nhóm đối tượng này. Tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer;
- Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer;
- Làm rõ thực trạng nhu cầu học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long;
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý – sư phạm góp phần nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long;
- Tổ chức thực nghiệm khoa học các biện pháp tác động tâm lý – sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp.
Đối tượng nghiên cứu là biểu hiện và mức độ nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào hai biểu hiện của nhu cầu học tập là mức độ bức thiết và mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập (đối với tri thức, kỹ năng và phẩm chất); phân tích bảy yếu tố ảnh hưởng gồm mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng trong học tập, triển vọng ngành học, nhà trường và gia đình; đề xuất các biện pháp tâm lý - giáo dục.
- Về khách thể và địa bàn: Khảo sát sinh viên người Khmer năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba tại bốn trường đại học có đông sinh viên Khmer theo học nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Trường Đại học An Giang và Trường Đại học Trà Vinh; đồng thời khảo sát đối chứng trên nhóm sinh viên người Kinh.
- Về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu thực tiễn được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2017 - 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong Chương 1 của luận án được tác giả phân chia thành ba hướng nghiên cứu chính:
Hướng thứ nhất nghiên cứu về nhu cầu:
- Các nghiên cứu tiếp cận nhu cầu gắn với bản năng: W.E. Miller, S. Freud, Mc.E Miller, E. Thorndike (nhấn mạnh sự thỏa mãn và khó chịu gắn với hành vi), W. McDougall, C. Hull (nhu cầu cơ thể xuất hiện do sự lệch lạc điều kiện sinh học tối ưu), E. Fromm (phân loại năm nhu cầu cơ bản: họ hàng, tính siêu nhiên, cội nguồn, ý thức về bản sắc, hệ quy chiếu), A. Maslow (mô hình tháp thứ bậc nhu cầu), H. Murray (năm 1938, xác định nhu cầu là tổ chức cơ động định hướng hành vi với hệ thống 20 nhu cầu nguyên phát và thứ phát).
- Các nghiên cứu tiếp cận nhu cầu là nguồn gốc, động lực của tính tích cực cá nhân: D. Axeev, D.N. Uznatze (nhu cầu luôn gắn với đối tượng), A.G. Kovaliov (nhu cầu là đòi hỏi tất yếu được ý thức), S.L. Rubinstein (ba mức độ: ý hướng, ý muốn, ý định), A.N. Leonchiev (nhu cầu qua hai cấp độ và quy luật hoạt động – nhu cầu – hoạt động), Gontrancov, P.V. Ximonov, A.A. Xmirnov, P.A. Ruđich, B.F. Lomov. Tại Việt Nam, hướng tiếp cận này được thể hiện trong công trình của Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức. Các nghiên cứu chuyên biệt về biểu hiện nhu cầu trong thực tiễn gồm có Ngô Công Hoàn (2005 - hành vi đạo đức trẻ mầm non), Hoàng Trần Doãn (2006 - nhu cầu điện ảnh), Nguyễn Thị Liên (2007 - tư vấn sức khỏe sinh sản sinh viên), Nguyễn Thị Tuyết Mai (2008 - bồi dưỡng cán bộ xã), Trần Hữu Luyến (2008 - học ngoại ngữ THPT), Nguyễn Phương Huyền (2008 - thẩm mỹ sinh viên sư phạm), Bùi Thị Vân Anh (2009 - giao tiếp người nghỉ hưu), Nguyễn Xuân Thức và Lê Thị Thúy Bích (2009 - vui chơi tiểu học), Nguyễn Thị Lan và Bùi Thị Vân Anh (2010 - văn hóa tinh thần nông dân nghèo).
Hướng thứ hai nghiên cứu về nhu cầu học tập:
- Nghiên cứu nội dung nhu cầu học tập: Nicolaikuzan, C. Fourier, L.I. Bozovich, V.V. Davudov, A.V. Petrovxki, I.V. Dubrovina. Ở Việt Nam có Nguyễn Văn Lũy (2001 - học sinh tiểu học kém), Hoàng Thị Thu Hà (2003 - nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm qua ba mức độ ý hướng, ý muốn, ý định), Trần Thị Minh Ngọc (2009 - thái độ học tập các môn lý luận chính trị), B. Trilling và C. Fadel (kỹ năng thế kỷ XXI), D. Gallard và K. Cartmell (2015 - động lực học tập).
- Nghiên cứu phương thức thỏa mãn nhu cầu qua tính tích cực học tập: B.F. Skinner (mô hình hành vi tạo tác S – R – C), J. Piaget (nhận thức cấu trúc), J. Dewey (học tập thực dụng và kiến tạo), J. Bruner (học tập khám phá qua ba giai đoạn: phân tích, mô hình hóa, ký hiệu hóa), A. Bandura (học tập nhận thức xã hội qua quan sát và trải nghiệm), trường phái Gestalt (thử và sai, lập lại cân bằng nhận thức), L.S. Vygotsky (lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử), A.N. Leonchiev (cấu trúc sáu thành tố của hoạt động), P. Galperin (các bước hình thành hành động trí óc), M.H. Dembo (động cơ và chiến lược học đại học), Mary James và cộng sự (công cụ tự đánh giá và lập kế hoạch học tập), Chris Watkins và cộng sự (học trong và ngoài nhà trường).
- Nghiên cứu bản chất hoạt động học và tự học: Nguyễn Quang Huỳnh (2006), Nguyễn Kế Hào và Nguyễn Quang Uẩn (2006), Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (2007 - đặc điểm hoạt động học tập bậc đại học), Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu (2008), Nguyễn Văn Đản (2012 - lao động nhận thức và mâu thuẫn nhu cầu - khả năng), Hoàng Thanh Thúy và Phan Thị Hồng Vinh (2016).
- Nghiên cứu các yếu tố khách quan điều kiện hóa nhu cầu học tập: J. Rousseau, A. Diesterweg, J.A. Komensky, K.D. Usinsky, C. Rogers, Hồ Chí Minh (1977), Võ Trung Hiếu (1994 - biên dịch L. Nason), Nguyễn Thành Thống (1996), Nguyễn Ngọc Quang (1998 - khối kiến thức nền tảng và hỗ trợ), Phạm Trung Thanh (1999), Hồ Ngọc Đại (2000), Đỗ Thị Coỏng (2004), Nguyễn Cảnh Toàn (2001, 2002), Vũ Quốc Chung và Lê Hải Yến (2003), Trần Thị Minh Hằng (2011), Nguyễn Kim Quý (2004), Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012), Nguyễn Thị Kim Liên (2012), Trần Văn Hiếu (1998), Vũ Văn Tảo (2003), Đào Tam và Nguyễn Thị Dung (2013).
Hướng thứ ba nghiên cứu về hoạt động học tập của người dân tộc thiểu số:
- Các nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thị Hoài (2007) phân tích sự thích ứng học tập của sinh viên dân tộc thiểu số tại Trường Đại học Tây Nguyên, chỉ ra sự thiếu tự tin và rào cản tâm lý; Mã Ngọc Thể (2016) nghiên cứu mức độ thích ứng qua hành vi chỉ đạt mức trung bình do tâm lý dân tộc và hạn chế giao tiếp.
- Các nghiên cứu quốc tế: Keti Heitner, Kenneth Prospero, Amy Catherine và Shetal Vohra-Gupta (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của động lực đối với sinh viên thế hệ thứ nhất gốc Tây Ban Nha và vai trò tham vấn của giảng viên; Billy Wong (2016) phân tích rào cản và khát vọng nghề nghiệp của sinh viên các nhóm dân tộc thiểu số tại Anh (người Anh da đen vùng Caribe, Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đã chỉ ra những khó khăn về ngôn ngữ và rào cản thích ứng của người học dân tộc thiểu số, chưa có đề tài nào đi sâu khảo cứu nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long dưới góc độ cấu trúc tâm lý gồm tính bức thiết và hành vi thỏa mãn nhu cầu, chưa làm rõ mối tương quan giữa nhu cầu học tập với các yếu tố chủ quan và khách quan, cũng như chưa xây dựng và kiểm định quy trình thực nghiệm tác động tâm lý sư phạm chuyên biệt cho nhóm đối tượng này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khái niệm, tác giả tổng hợp định nghĩa từ các từ điển chuyên ngành (Oxford, APA College Dictionary of Psychology, Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Tâm lý học) và các trường phái tâm lý học đại cương, tâm lý học quản lý, tâm lý học xã hội. Luận án xác lập định nghĩa công cụ: "Nhu cầu là những đòi hỏi bức thiết của chủ thể cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển." Tác giả xác định ba đặc điểm cốt lõi của nhu cầu:
- Nhu cầu có tính bức thiết: Thể hiện qua nhận thức rõ ràng về sự thiếu hụt đối tượng, phương thức thỏa mãn và ý nghĩa của đối tượng đối với bản thân;
- Phương thức thỏa mãn thông qua hoạt động: Nhu cầu là động lực khởi phát hành vi nhưng chỉ gặp gỡ đối tượng và được đáp ứng trong hoạt động, vận hành theo vòng chu kỳ "hoạt động – nhu cầu – hoạt động";
- Nhu cầu gắn liền với trạng thái xúc cảm – ý chí: Xúc cảm âm tính hoặc dương tính đi kèm đóng vai trò kích hoạt nghị lực ý chí giúp chủ thể vượt qua khó khăn để giải quyết nhiệm vụ.
Về cấu trúc nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer, luận án tiếp cận theo hai thành tố biểu hiện có thể lượng hóa và quan sát được:
- Mức độ bức thiết: Bao gồm đòi hỏi bức thiết về tri thức nghề nghiệp, đòi hỏi về kỹ năng học tập và đòi hỏi về phẩm chất nhân cách của người học;
- Mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập: Đo lường các hành động thực tế nhằm chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng và hoàn thiện phẩm chất.
Đồng thời, luận án xây dựng khung phân tích gồm bảy yếu tố tác động: bốn yếu tố chủ quan (mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng trong học tập) và ba yếu tố khách quan (triển vọng ngành học, nhà trường, gia đình).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án vận dụng ba nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học hoạt động: nguyên tắc hoạt động, nguyên tắc đảm bảo tính khách quan và nguyên tắc phát triển. Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp định tính: Nghiên cứu văn bản và tài liệu; Phương pháp quan sát hoạt động học tập; Phương pháp phỏng vấn sâu sinh viên và giảng viên; Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình.
- Phương pháp định lượng: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi thông qua thang đánh giá nhu cầu học tập và thang điểm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng; kiểm tra độ tin cậy thang đo (bảng kiểm định độ tin cậy của thang đo).
- Phương pháp thực nghiệm tác động tâm lý: Tổ chức thực nghiệm bốn biện pháp can thiệp tâm lý - sư phạm nhằm đánh giá sự thay đổi mức độ nhu cầu học tập trước và sau thực nghiệm, cũng như sau tác động liên tục.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các đại lượng thống kê gồm số lượng (SL), điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định phân bố chuẩn (sơ đồ phân bố chuẩn nhu cầu học tập), phân tích tương quan Pearson, so sánh điểm trung bình giữa các nhóm biến số nhân khẩu học và so sánh đối chứng giữa sinh viên người Khmer với sinh viên người Kinh, phân tích hồi quy tổng hợp và dự báo mức độ tác động của các yếu tố.
Về nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn kiện chính sách của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (Chương trình 135, Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg, Nghị quyết số 52/NQ-CP năm 2016, Nghị quyết số 57/2017/NQ-CP năm 2017); Dữ liệu điều tra dân số và lao động từ Trung tâm nghiên cứu Miền Nam (2012) và Tổng cục Thống kê (2015); Số liệu thống kê sinh viên của Trường Đại học Cần Thơ năm 2017.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát sơ bộ trên 341 sinh viên; Khảo sát diện rộng bằng bảng hỏi trên khách thể sinh viên người Khmer năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba tại bốn trường đại học (Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Trà Vinh) và sinh viên người Kinh đối chứng; Dữ liệu phỏng vấn sâu, quan sát hành vi và dữ liệu thực nghiệm sư phạm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu học tập
Chương 1 hệ thống hóa các dòng nghiên cứu lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Luận điểm cơ bản của chương làm rõ sự phát triển nhận thức khoa học về nhu cầu: từ chỗ xem nhu cầu gắn với bản năng sinh học đơn thuần (Freud, Thorndike, Hull, Murray, Maslow) tiến đến xem nhu cầu là nguồn gốc và động lực của tính tích cực hoạt động xã hội (Rubinstein, Leonchiev, Lomov, Phạm Minh Hạc). Đối với nhu cầu học tập, chương tổng thuật các nghiên cứu về nội dung học tập, phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập qua hoạt động nhận thức (Skinner, Piaget, Bruner, Vygotsky) và bản chất tự học của sinh viên đại học. Điểm nhấn của chương là phần tổng quan nghiên cứu về người học dân tộc thiểu số tại Việt Nam và quốc tế (Nguyễn Thị Hoài, Mã Ngọc Thể, Keti Heitner, Billy Wong), từ đó chỉ ra khoảng trống về mặt dữ liệu thực tiễn và lý luận đối với nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Chương 2: Cơ sở lý luận về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết định hướng cho toàn bộ nghiên cứu. Tác giả phân tích các khái niệm nền tảng: nhu cầu, nhu cầu học tập, sinh viên người Khmer và nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer. Nhu cầu học tập được khẳng định là nhu cầu tinh thần mang tính trí tuệ, được biểu hiện qua hai thành tố là mức độ bức thiết (đòi hỏi đối với tri thức, kỹ năng, phẩm chất) và mức độ thực hiện hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu. Tác giả phân tích các đặc trưng tâm lý - xã hội của sinh viên người Khmer: sinh sống tại vùng khó khăn, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, chịu sự chi phối của phong tục văn hóa truyền thống nhưng có tinh thần hiếu học. Chương 2 cũng luận giải cơ chế tác động của hệ thống bảy yếu tố ảnh hưởng, chia thành hai nhóm: nhóm yếu tố chủ quan (mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng trong học tập) và nhóm yếu tố khách quan (triển vọng ngành học, nhà trường, gia đình).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer
Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học. Tác giả thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá nhu cầu học tập, xây dựng thang đo nhu cầu học tập và thang đo các yếu tố ảnh hưởng. Độ tin cậy của bộ công cụ được kiểm định chặt chẽ (được thể hiện qua Bảng Độ tin cậy của thang đo). Mẫu khảo sát được thu thập tại bốn cơ sở giáo dục đại học lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Trường Đại học An Giang và Trường Đại học Trà Vinh (Bảng 3: Khách thể khảo sát). Quy trình nghiên cứu kết hợp giữa điều tra bảng hỏi số lượng lớn, quan sát sư phạm, phỏng vấn sâu, lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu trường hợp điển hình và thiết kế thực nghiệm tác động tâm lý sư phạm có nhóm đối chứng và đo lường trước - sau tác động.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
Chương 4 cung cấp toàn bộ bức tranh dữ liệu định lượng và định tính của đề tài qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ:
- Thực trạng chung: Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt mức độ trung bình. Mức độ bức thiết của nhu cầu chưa cao, dẫn đến mức độ tích cực thực hiện các hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu còn hạn chế. Phân bố điểm số nhu cầu học tập tuân theo quy luật phân bố chuẩn (Sơ đồ phân bố chuẩn nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer).
- Về mức độ bức thiết: Sinh viên Khmer hướng sự bức thiết nhiều nhất vào các khối kiến thức chuyên ngành, kiến thức giao tiếp, kiến thức ngoại ngữ, kiến thức công nghệ thông tin; các kỹ năng phỏng vấn xin việc, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ; và mong muốn thể hiện sự tự tin cũng như phẩm chất thẩm mỹ trong học tập.
- Về mức độ thực hiện hành vi: Sinh viên chấp hành tốt nội quy nhà trường và ký túc xá, có ý thức học hỏi phẩm chất tốt từ bạn bè và tự giác thực hiện nhiệm vụ học tập cơ bản. Tuy nhiên, các hành vi đòi hỏi tính độc lập trí tuệ và chuyên môn sâu lại đạt điểm số rất thấp, cụ thể là: hành vi tham gia nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn, hành vi nghiên cứu kỹ đề cương chi tiết của từng học phần, và hành vi phân tích, so sánh đối chiếu nhiều tài liệu học tập để tự rút ra kết luận.
- Mối tương quan và so sánh biến số: Luận án chứng minh có mối tương quan thuận giữa mức độ bức thiết và mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu. Kết quả so sánh nhu cầu học tập được phân tích theo các biến số nhân khẩu học: năm học, trường học, giới tính, ngành học, kết quả học lực, và so sánh đối chứng giữa sinh viên người Khmer với sinh viên người Kinh. Phân tích tương quan khẳng định cả bảy yếu tố chủ quan và khách quan đều có liên hệ chặt chẽ với nhu cầu học tập của sinh viên Khmer, trong đó mô hình hồi quy xác định mức độ dự báo của các yếu tố chủ quan và khách quan.
- Nghiên cứu trường hợp điển hình: Cung cấp các phân tích sâu về hoàn cảnh học tập, tâm lý cá nhân và rào cản ngôn ngữ của các sinh viên Khmer cụ thể.
- Kết quả thực nghiệm: Tác giả tiến hành thực nghiệm bốn biện pháp tác động tâm lý sư phạm. Kết quả đo lường sau thực nghiệm (thể hiện ở Bảng ĐTB trước và sau tác động theo từng biện pháp và Bảng ĐTB sau tác động các biện pháp liên tục, trang 141) cho thấy điểm trung bình nhu cầu về tri thức, kỹ năng và phẩm chất của sinh viên nhóm thực nghiệm có sự gia tăng rõ rệt so với trước tác động.
Bảng tổng hợp một số dữ liệu định lượng nền tảng được trích xuất từ văn bản luận án:
| Nội dung dữ liệu |
Nguồn trích dẫn / Khách thể |
Giá trị số liệu trích xuất |
| Tỷ trọng người Khmer trong nhóm DTTS ĐBSCL |
Trung tâm nghiên cứu Miền Nam (2012) |
86,843% (trên 1.778 người) |
| Người Khmer biết đọc, viết tiếng phổ thông |
Tổng cục Thống kê (2015) |
73% |
| Lao động Khmer từ 15 tuổi qua đào tạo (sơ cấp - ĐH) |
Tổng cục Thống kê (2015) |
3,5% |
| Quy mô sinh viên Khmer tại ĐH Cần Thơ |
Thống kê Trường ĐH Cần Thơ (2017) |
Khoảng 1.753 sinh viên |
| Tỷ lệ sinh viên Khmer học lực "Xuất sắc" và "Giỏi" |
Khảo sát sơ bộ luận án (2017) |
10,9% (38 trên 341 sinh viên) |
| Tỷ lệ sinh viên Khmer học lực từ "Khá" trở xuống |
Khảo sát sơ bộ luận án (2017) |
89,1% (304 trên 341 sinh viên) |
| Mục tiêu đào tạo sinh viên DTTS đến năm 2020 |
Nghị quyết số 52/NQ-CP |
130 đến 150 sinh viên / vạn dân |
| Cơ sở khảo sát chính thức của luận án |
04 trường đại học vùng ĐBSCL |
ĐHCT, ĐHYDCT, ĐHAG, ĐHTV |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã đạt được các đóng góp cụ thể:
- Kế thừa và hoàn thiện lý luận về nhu cầu học tập dưới góc độ tâm lý học hoạt động, làm sáng tỏ khái niệm nhu cầu học tập của sinh viên đại học và xác lập hai biểu hiện cụ thể có thể quan sát, đo lường được là tính bức thiết và hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập.
- Khẳng định và kiểm chứng hệ thống các yếu tố tâm lý - xã hội ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số, bao gồm nhóm yếu tố chủ quan (mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng) và nhóm yếu tố khách quan (triển vọng ngành học, nhà trường, gia đình).
- Bổ sung cơ sở lý luận chuyên ngành cho tâm lý học sư phạm và tâm lý học dân tộc trong nghiên cứu người học dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả mới:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, khách quan về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer tại các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long: xác định nhu cầu học tập chung đạt mức trung bình, trong đó tính bức thiết chưa cao là nguyên nhân dẫn đến mức độ hành vi thỏa mãn nhu cầu còn thấp.
- Chỉ rõ các nội dung sinh viên Khmer có nhu cầu bức thiết cao (kiến thức chuyên ngành, giao tiếp, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, kỹ năng phỏng vấn, thuyết trình, tự tin học tập) và các hành vi học tập còn hạn chế (nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đề cương học phần, phân tích so sánh tài liệu tham khảo).
- Xây dựng, triển khai và kiểm chứng thực nghiệm bốn biện pháp tác động tâm lý sư phạm gồm:
- Nâng cao nhận thức cho sinh viên về sự thiếu hụt tri thức và ý nghĩa của tri thức trong chương trình đào tạo đối với nghề nghiệp tương lai;
- Khơi dậy niềm tin vào bản thân trong học tập cho sinh viên người Khmer;
- Hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập;
- Tạo bầu không khí tâm lý tích cực trong lớp học.
Kết quả đo nghiệm trước và sau thực nghiệm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của bốn biện pháp này trong việc nâng cao điểm trung bình nhu cầu học tập của sinh viên Khmer.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, tác giả đề nghị:
- Đối với các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long: Cần căn cứ vào nhu cầu học tập thực tế của sinh viên Khmer để điều chỉnh chuẩn đầu ra, cấu trúc khối lượng kiến thức, kỹ năng và phẩm chất trong chương trình đào tạo cho phù hợp với xu hướng phát triển xã hội; đồng thời thiết kế các biện pháp hỗ trợ thúc đẩy hành vi học tập tích cực.
- Đối với giảng viên: Cần đổi mới phương pháp giảng dạy, chú trọng tạo dựng bầu không khí lớp học thân thiện, hướng dẫn kỹ năng tự học và lập kế hoạch học tập, hỗ trợ sinh viên vượt qua rào cản ngôn ngữ tiếng Việt.
- Đối với cơ quan quản lý: Cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số theo các nghị quyết của Chính phủ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung khảo sát hai phương diện biểu hiện của nhu cầu học tập là mức độ bức thiết và mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu; các yếu tố ảnh hưởng chỉ giới hạn ở bảy yếu tố được lựa chọn (mục đích, hứng thú, niềm tin, cảm xúc hài lòng, triển vọng ngành, nhà trường, gia đình), chưa mở rộng sang toàn bộ các yếu tố văn hóa tôn giáo đặc thù của người Khmer như vai trò của Phật giáo Nam tông hay thiết chế chùa Khmer.
- Giới hạn về địa bàn và khách thể: Nghiên cứu chỉ tập trung vào sinh viên người Khmer năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba tại bốn trường đại học (Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Trà Vinh), chưa khảo sát sinh viên năm cuối và sinh viên tại các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trong vùng.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ các giới hạn trên có thể xác định các hướng phát triển:
- Mở rộng khảo sát trên đối tượng sinh viên người Khmer năm cuối để đánh giá sự biến chuyển của nhu cầu học tập trong giai đoạn chuẩn bị tốt nghiệp và tiếp cận thị trường lao động.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trường đại học thuộc các địa phương khác có đông đồng bào Khmer sinh sống.
- Đi sâu nghiên cứu tác động của các yếu tố văn hóa truyền thống, phong tục tập quán và ngôn ngữ Khmer đối với sự hình thành động cơ và phương thức học tập của người học.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong nghiên cứu và quản lý giáo dục:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Tâm lý học và Giáo dục học: Luận án cung cấp một khung lý thuyết hoàn chỉnh về nhu cầu học tập theo quan điểm hoạt động, bảng tiêu chí đánh giá và hệ thống thang đo đã qua kiểm định độ tin cậy, cùng quy trình thiết kế thực nghiệm tác động tâm lý sư phạm.
- Đối với cán bộ quản lý và giảng viên tại các trường đại học khu vực đồng bằng sông Cửu Long: Kết quả phân tích thực trạng tại Chương 4 và bốn biện pháp tác động tâm lý là tài liệu tham khảo trực tiếp giúp nhà trường điều chỉnh chương trình đào tạo, xây dựng các khóa bồi dưỡng kỹ năng học tập, cải thiện môi trường sư phạm nhằm nâng cao kết quả học tập cho sinh viên dân tộc thiểu số.
- Đối với các cơ quan hoạch định chính sách dân tộc và giáo dục: Các dữ liệu thống kê về thực trạng học tập và rào cản ngôn ngữ của sinh viên Khmer cung cấp căn cứ thực tiễn để đánh giá và điều chỉnh việc thực thi Nghị quyết 52/NQ-CP và các chính sách phát triển nhân lực dân tộc thiểu số tại vùng Tây Nam Bộ.
Câu hỏi thường gặp
Dưới đây là các câu hỏi cụ thể giải đáp nội dung chính của luận án dựa trên các dữ kiện có trong văn bản:
-
Kết quả khảo sát ban đầu về tình hình học tập của sinh viên người Khmer tại Trường Đại học Cần Thơ phản ánh thực trạng như thế nào?
Trả lời: Theo số liệu khảo sát ban đầu của tác giả trên 341 sinh viên người Khmer tại Trường Đại học Cần Thơ (nơi có khoảng 1.753 sinh viên Khmer theo học năm 2017), kết quả học tập của sinh viên còn thấp: chỉ có 38 sinh viên đạt loại xuất sắc và giỏi, chiếm tỷ lệ 10,9%; trong khi đó có tới 304 sinh viên đạt kết quả học tập từ loại khá trở xuống, chiếm tỷ lệ 89,1%.
-
Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer được luận án đánh giá qua những thành tố biểu hiện nào?
Trả lời: Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer được luận án đánh giá qua hai thành tố biểu hiện cụ thể: thứ nhất là mức độ bức thiết của nhu cầu (thể hiện qua nhận thức về sự thiếu hụt và đòi hỏi đối với tri thức, kỹ năng học tập và phẩm chất nhân cách); thứ hai là mức độ thực hiện hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập đó trong hoạt động thực tiễn.
-
Sinh viên người Khmer thể hiện mức độ bức thiết cao nhất ở những nội dung nào và hạn chế ở những hành vi nào?
Trả lời: Về mức độ bức thiết, sinh viên người Khmer quan tâm nhiều nhất đến kiến thức chuyên ngành, kiến thức giao tiếp, ngoại ngữ, công nghệ thông tin; các kỹ năng phỏng vấn xin việc, thuyết trình, giao tiếp ngoại ngữ; và mong muốn thể hiện sự tự tin trong học tập. Ngược lại, về mức độ thực hiện hành vi, sinh viên còn rất hạn chế ở các hoạt động mang tính học thuật chuyên sâu như: tham gia nghiên cứu khoa học, đọc kỹ đề cương từng học phần, và phân tích so sánh nhiều nguồn tài liệu học tập.
-
Bốn biện pháp tác động tâm lý - sư phạm được luận án đề xuất và thực nghiệm là gì?
Trả lời: Bốn biện pháp tác động được luận án xây dựng và thực nghiệm bao gồm: (1) Nâng cao nhận thức về sự thiếu hụt tri thức và ý nghĩa của tri thức trong chương trình đào tạo đối với nghề nghiệp tương lai; (2) Khơi dậy niềm tin vào bản thân trong học tập cho sinh viên người Khmer; (3) Hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập; và (4) Tạo bầu không khí tâm lý tích cực trong lớp học.
-
Những yếu tố tâm lý chủ quan và khách quan nào được luận án xác định có ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên Khmer?
Trả lời: Luận án xác định bảy yếu tố ảnh hưởng gồm: nhóm yếu tố chủ quan gồm mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng trong học tập; nhóm yếu tố khách quan gồm triển vọng ngành học, nhà trường và gia đình. Toàn bộ các yếu tố này đều có mối tương quan chặt chẽ với mức độ nhu cầu học tập của sinh viên.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích Phượng là công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu thuộc chuyên ngành Tâm lý học, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long qua hai mặt biểu hiện: mức độ bức thiết và hành vi thỏa mãn nhu cầu. Dữ liệu khảo sát trên sinh viên tại bốn trường đại học lớn trong khu vực khẳng định nhu cầu học tập của sinh viên Khmer đạt mức trung bình và chịu sự tác động đồng thời của các yếu tố tâm lý chủ quan lẫn điều kiện môi trường khách quan. Bốn biện pháp tác động tâm lý sư phạm được luận án xây dựng và kiểm chứng thực nghiệm đã chứng minh tính hiệu quả qua các chỉ số thống kê, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.