CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU HỌC TẬP 1.1 Nghiên cứu về nhu cầu 1. Nghiên cứu nhu cầu được xem xét gắn với bản năng Các nhà tâm lý học phương Tây xem xét nhu cầu gắn với bản năng đồng thời có sự phân biệt nhu cầu bản năng của con người và nhu cầu bản năng của động vật. Đại diện cho xu hướng này có các tác giả như: W.E Miller, Freud (1856 – 1939), Mc.E Miller dựa vào hành vi của động vật để lý giải nhu cầu và cho rằng nhu cầu quyết định hành vi. Khi xem xét hành vi của động vật Thorndike cho rằng “sự thỏa mãn”, “không thỏa mãn” và “sự khó chịu” đều liên quan đến hành vi.
Trên cơ sở đó ông khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi. Freud và Mc. Dougall quan niệm bản năng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hoạt động. Mọi nhu cầu của con người, đặc biệt là nhu cầu tình dục được thỏa mãn bằng nhiều cách (hiện thực, giấc mơ).
Hull chỉ ra rằng nền tảng của động cơ hành vi là nhu cầu của cơ thể xuất hiện do sự lệch lạc điều kiện sinh học tối ưu. Theo Erich Fromm thì tất cả mọi người đều có 5 nhu cầu cơ bản: họ hàng (thiết lập mối quan hệ tích cực và tiếp diễn với người khác), tính siêu nhiên (nhận thức về khả năng và tiềm năng của bản thân dẫn tới năng suất sáng tạo của cá nhân), cội nguồn (nhu cầu về mối quan hệ liên tục và có ý nghĩa với cả môi trường xung quanh lẫn quá khứ), ý thức về bản sắc (khao khát muốn biết mình là ai và có vai trò gì trong xã hội) và hệ quy chiếu (nhu cầu tạo nên trật tự của nhận thức từ một thế giới của sự hỗn loạn khác). Maslow cho rằng trong quá trình 9 phát triển của cá nhân, các nhu cầu này có quan hệ với nhau theo kiểu dạng tháp. Mặc dù ông đã chỉ ra nhu cầu của con người bao gồm nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội nhưng những lý giải của ông về thứ bậc nhu cầu và đặt nhu cầu của cá nhân nằm ngoài mối liên hệ xã hội nên luận thuyết về nhu cầu của Maslow còn nhiều điểm cần bàn luận.
Murray (1938) khẳng định nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi. Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về các cấp độ tùy vào từng giai đoạn phát triển của nhân cách. Ông đã đưa ra bảng phân loại nhu cầu của con người gồm 20 nhu cầu (1.nhu cầu chiếm ưu thế, 2. tìm kiếm các mối quan hệ bạn bè, 4.
bỏ rơi người khác, 5. phục tùng thụ động, 7. về sự tôn trọng, ủng hộ, 8. trở thành trung tâm của sự chú ý, 10.
cần tìm người bảo trợ, 14. giúp người; 15. tránh bị trách phạt; 16. vượt qua những thất bại; 18.
ngăn nắp, trật tự; 20. Trong đó Murray chia các nhu cầu thành hai loại là nhu cầu nguyên phát và nhu cầu thứ phát. Nhu cầu phóng ra các kiểu hành vi nhất định mang lại sự thỏa mãn cần tìm. Bất kỳ nhu cầu nào cũng gây ra trong cơ thể sự căng thẳng nhất định, mà việc giải tỏa nó chỉ bằng cách thỏa mãn nhu cầu [129], [71], [114].
Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu nhu cầu theo khuynh hướng xem nhu cầu gắn với bản năng đã thừa nhận vai trò của nhu cầu, phân biệt nhu cầu của con người và nhu cầu của con vật và đưa ra hệ thống nhu cầu cụ thể ở con người. Tuy nhiên, các tác giả chỉ mới mô tả và lý giải nhu cầu của con người liên quan đến bản năng. Các tác giả chưa chỉ ra nhu cầu bản năng của con người khác biệt về chất so với nhu cầu bản năng của của động vật. Nhu cầu của con người bao giờ cũng chịu sự quy định của điều kiện lịch sử xã hội.
Con người sống trong hoàn cảnh xã hội khác nhau, trình độ nhận thức khác nhau, vị thế xã hội khác nhau thì có những nhu cầu khác nhau. Nghiên cứu nhu cầu được xem xét dưới góc độ nhu cầu là nguồn gốc là động lực của tính tích cực cá nhân Đại diện cho xu hướng giải thích nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động của cá nhân có các tác giả như: D.Axeev, Phạm Minh 10 Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức và một số tác giả khác. Uznatze cho rằng nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng và nhu cầu là yếu tố quyết định tính tích cực của con người [87, tr143].Kovaliov thì cho rằng nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của cá nhân và các nhóm xã hội do họ nhận thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Theo ông, một nhu cầu khách quan nào đó trước khi trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của con người đã được con người ý thức [32, tr187 – 188], [9, tr110], [4, tr223-224].Rubinstein chỉ ra các mức độ của nhu cầu (ý hướng tính tích cực thấp; ý muốn tính tích cực cao hơn; ý định tính tích cực cao nhất) [32, 183 – 184].
Leonchive chỉ ra hai cấp độ của nhu cầu. Ở cấp độ thứ nhất nhu cầu là trạng thái tâm lý bên trong, là điều kiện bắt buộc của hoạt động. Nó thể hiện trạng thái thiếu thốn của cơ thể. Nhưng do chưa có đối tượng thỏa mãn, nên cấp độ này nhu cầu chỉ có khả năng phát động sức mạnh của các chức năng tâm lý và tạo ra sự kích thích chung.
Kết quả dẫn đến sự tìm tòi vô định hướng. Ở cấp độ thứ hai nhu cầu “gặp” đối tượng. Ở cấp độ này nhu cầu có khả năng kích thích, hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động theo một hướng rõ ràng, hướng đến đối tượng thỏa mãn nhu cầu. Từ luận điểm trên cho thấy, nhu cầu theo đúng nghĩa phải gắn liền với đối tượng của hoạt động.
Nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó. Cái gì đó có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan vì vậy nhu cầu của cá nhân chỉ có thể gặp đối tượng khi tham gia hoạt động. Ông mô tả nguồn gốc của nhu cầu cũng như mối quan hệ của nó với hoạt động bằng sơ đồ: hoạt động – nhu cầu – hoạt động. Luận điểm này phù hợp với quan niệm của Mác về nhu cầu – nhu cầu của con người được sản xuất trong hoạt động [32, tr184-187], [9, tr111], [64 tr31].Gontrancov xem nhu cầu là cốt lõi của nhân cách và khả năng thỏa mãn nó phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị của chủ thể.
Chủ thể cần trang bị thông tin có liên quan đến khả năng thỏa mãn nhu cầu, kết hợp với trạng thái tâm lý của chủ thể để tạo thành tâm thế làm tăng năng lượng của nhu cầu [30, tr10].Ximonov thì cho rằng đặc điểm của nhân cách phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức thỏa mãn nhu cầu. Nếu như trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt thông tin về khả năng thỏa mãn nó sẽ nảy sinh 11 những rung cảm âm tính, phát triển năng lượng nhu cầu tuy nhiên kết quả hành vi lại không thuận lợi. Ngược lại, những rung cảm dương tính làm giảm tập hợp hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu.A Xmirnov cho rằng nhu cầu của con người được thể hiện dưới dạng các ước ao và ý hướng của chủ thể. Các ước ao, ý hướng đó mang ý nghĩa báo hiệu sự xuất hiện của nhu cầu hay sự thỏa mãn của nhu cầu, nhờ vào nó mà chủ thể điều chỉnh hoạt động của bản thân làm cho hoạt động ấy xuất hiện, tăng cường hay làm yếu nó đi [9, tr111].
Ruđich quan niệm “nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta thấy một sự cần thiết nhất định nào đó về một điều gì đó” [80, tr331].Lomov xem xét nhu cầu như là một thuộc tính căn bản của nhân cách “nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình” [9, tr112].Axeev đưa ra quan điểm xúc cảm giá trị là lực thúc đẩy hành động tích cực [32, 216 - 234]. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức và các tác giả khác tuy có cách trình bày về nhu cầu khác nhau nhưng đều thống nhất vấn về nhu cầu ở một số khía cạnh như: khái niệm nhu cầu, phân loại nhu cầu, vai trò của nhu cầu. Các tác giả chủ yếu dựa trên quan điểm của tâm lý học hoạt động khi xem xét nhu cầu với tư cách là thành tố trong xu hướng của nhân cách, là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động của con người “nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó.
Dần dần nó được cá nhân nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về ý nghĩa của nó đối với sự tồn tại và phát triển của mình. Lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động nhằm mục đích thỏa mãn chính nhu cầu này. Nhờ vậy trong sự gắn bó với thế giới xung quanh, con người không phụ thuộc vào thế giới đó một cách thụ động, mà trái lại trong mối quan hệ này con người xuất hiện như một chủ thể hành động tích cực và sáng tạo” [22], [34, tr266], [102]. Ngoài ra các bài báo viết về nhu cầu được đăng trên các bài báo, tạp chí khoa học.
Ngô Công Hoàn (2005) nghiên cứu nhu cầu đối với sự hình thành 12 hành vi đạo đức ở trẻ em lứa tuổi mầm non [44, tr5-11]. Hoàng Trần Doãn (2006) nghiên cứu các cấp độ nhu cầu điện ảnh [20, tr59-63]. Nguyễn Thị Liên (2007) đề cập đến nhu cầu được tư vấn sức khỏe sinh sản của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội [59, tr53-57]. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2008) chú ý đến nhu cầu bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý của cán bộ xã [68, tr37-41].
Trần Hữu Luyến (2008) quan tâm đến nhu cầu học ngoại ngữ ở trường trung học phổ thông những năm đổi mới tại một số tỉnh thành đồng bằng Bắc Bộ [65, tr11-17]. Nguyễn Phương Huyền (2008) tìm hiểu nhu cầu thẩm mỹ của sinh viên sư phạm trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho họ [48, tr23-26].