CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LY THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết liên quan đến sự gắn bó 1. Khái niệm về sự gắn bó Nhà tâm lý học John Bowlby (1969) được coi là người đầu tiên đưa ra học thuyết gắn bó. Ông định nghĩa sự gắn bó như là một “sự kết nối lâu dài giữa những con người”.
Ông cho rằng vào thời thơ au chơi đùa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành sự gắn bó và những trải nghiệm đầu đời có thé tác động đến các mối quan hệ mà con người hình thành sau này trong cuộc sống. Và do sự gắn bó đầu đời của mỗi người hình thành với cha mẹ và những người chăm sóc khác nên ông tin rằng sự gắn bó là một thành tố tiễn hoá mạnh mẽ. Theo định nghĩa của Answorth (1979) sự gắn bó là mối quan hệ sâu sắc và lâu dài, kết nối người này và người khác xuyên thời gian và không gian. Sự gắn bó không nhất thiết phải lặp đi lặp lại như một hành vi đơn lẻ, sự gắn bó giữa những cá nhân không nhất thiết phải có sự chia sẻ, tương đồng.
Sự gắn bó đặc trưng đơn giản như khi ta còn bé sẽ tìm kiếm sự gần gũi với các nhân vật mình gắn bó khi buồn bã hay khi bị đe doạ. Từ hai nghiên cứu lớn được công nhận trên ta thấy gan bó là sự kết nối, gần gũi của con người mà không cần là những hành vi cụ thé hay sự tương đồng giữa những cá nhân gắn bó. Theo các nhà tâm lý học, con người có 4 kiểu gắn bó: An toàn (secure), Lo au(anxious), Né tránh (avoidant), va Lo âu — Né tránh (anxious-avoidant). Cụ thê: Thứ nhất, đối với kiểu gắn bó an toàn, những người thuộc loại này sẽ cảm thấy thoải mái khi thé hiện tình cảm và quan tâm của mình.
Họ cũng cảm thấy thoải mái khi ở một mình và độc lập. Họ có khả năng xếp đặt ưu tiên cho các mối quan hệ trong cuộc sông một cách chính xác, đưa ra giới hạn và tuân thủ chúng. Kiểu gắn bó an toàn tạo ra những người bạn đời, thành viên gia đình và người bạn lý tưởng. Họ có khả năng chấp nhận sự từ chối và vượt qua nỗi đau, nhưng cũng có thể trung thành và hy sinh khi cần thiết.
Họ luôn tin tưởng vào những người thân cận và bản thân họ cũng là những người đáng tin cậy. Theo nghiên cứu, hơn 50% dân số thuộc kiểu gắn bó an toàn. Kiểu gắn bó an toàn được hình thành từ thời thơ ấu của những đứa trẻ thường được đáp ứng các nhu cầu cơ bản và nhận được đầy đủ tình cảm và yêu thương. Thứ hai, kiểu gn bó lo âu, những người thuộc loại nay thường lo lang và áp lực về môi quan hệ cua họ.
Họ cân sự bảo đảm liên tục từ người khác. Họ gặp khó khăn khi ở một mình hoặc độc thân. Họ thường dính líu vào những mối quan hệ không lành mạnh hoặc bạo lực. Họ không dé tin tưởng người khác, thậm chí cả những người thân cận.
Hành vi của họ có thể trở nên mắt lý trí, rời rạc, xúc động mạnh và phàn nàn rằng tất cả những người khác đều lạnh lùng và vô tâm. Kiểu gắn bó lo âu hình thành từ thời thơ ấu của những đứa trẻ thiếu tình yêu thương và quan tâm. Thứ ba, gắn bó né tránh, người thuộc kiểu gắn bó né tránh cực kỳ độc lập, tự cường, và thường không thích sự thân mật. Họ sợ những mối ràng buộc và rất giỏi dùng lý trí để thoát khỏi những tình huống thân mật.
Họ thường phàn nàn về việc cảm thấy “đông đúc” và “ngột ngạt” khi người khác có tiếp cận họ. Trong tat cả các mối quan hệ, họ luôn có một đường rút. Và họ thường xây dựng lối sống theo cách có thể né tránh ràng buộc hoặc quá nhiều thân mật. Chiến lược gắn bó né tránh được hình thành từ thời thơ ấu của những đứa trẻ chỉ được đáp ứng nhu cầu khi những nhu cau khác bị bỏ bê.
Cuối cùng là kiểu gắn bó Lo âu - Né tránh, còn được gọi là "kiểu sợ sệt", là sự kết hợp của những khía cạnh tồi tệ nhất của hai kiểu gắn bó đã nêu trên. Những người thuộc kiêu này không chỉ sợ ràng buộc và thân mật, mà còn luôn nghi ngờ và có thê chửi mắng bất kỳ ai cố gắng tiếp cận họ. Họ thường dành phần lớn thời gian ở một mình và cảm thấy khốn khổ, hoặc chịu đựng những mối quan hệ bạo lực hoặc không lành mạnh. Theo các nghiên cứu, chỉ có một phần nhỏ dân số thuộc kiểu gắn bó Lo âu - Né tránh và họ thường đối diện với nhiều vấn đề tâm lý khác trong các lĩnh vực khác của cuộc sống.
Kiểu gắn bó Lo âu - Né tránh xuất phát từ thời thơ au bị bạo hành va bị bỏ bê nặng nề. Trong các kiểu gan bó, gắn bó an toàn là hình thức gan bó lành mạnh nhất, đó là sự gan bó thoải mái ngay từ ban đầu, cảm giác được bảo vệ và có thé dựa vào. Phát triển của sự gan bó an toàn thường là sự thoải mái, tự tin khi khám phá, tương tác với môi trường mới và có thể tạo ra mối quan hệ lành mạnh với người khác. Bên cạnh đó, sự phát triển của các kiểu gắn bó còn lại có xu hướng sẽ gặp khó khăn trong việc tạo dựng mối quan hệ và hoà nhập hay có những mối quan hệ không lành mạnh.
Vậy nên, việc xây dựng kiểu gắn bó an toàn trong những giai đoạn đầu đời là rất quan trọng. Sự gắn bó đối với tổ chức 1. Khái niệm Sự gan bó với tổ chức là tình cảm hé trợ dé tổ chức đạt được các mục tiêu của nhân viên, nó bao gôm mức độ nhận biêt, tham gia và lòng trung thành. Theo Porter và các tác giả (1974), việc gắn bó với tổ chức là sự có niềm tin mạnh mẽ vào tô chức đó và chấp nhận mục tiêu mà tô chức hướng đến, đồng thời sẵn sang đóng góp tat cả khả năng và nỗ lực của bản thân cho tô chức đó.
Ngoài ra, người CÓ sự gắn bó mạnh mẽ với tổ chức còn mong muốn tiếp tục làm việc và làm việc tốt nhất cho tô chức đó. Với Dubin và các tác giả (1975), sự gắn bó với tổ chức được hiểu là sự cam kết và tình nguyện của một cá nhân dé ở lại và hoạt động trong tô chức, cùng với việc đóng góp tất cả nỗ lực và sự hỗ trợ cho mục tiêu và giá trị của tô chức. Sự gan bó này đòi hỏi sự tương tác tích cực giữa cá nhân va tô chức, tao nên một mỗi quan hệ tương đôi ôn định và có lợi cho cả hai bên. Đối với Steers (1977), sự gắn bó với tô chức cho thấy “mong muốn thực hiện nỗ lực lớn vì lợi ích của tổ chức" va “mong muốn duy trì một mối quan hệ tốt và là thành viên chặt chẽ của tổ chức”.
Theo cách tiếp cận khác, Mowday và cộng sự (1982) đã đưa ra định nghĩa về gan kết với tô chức là mức độ mà một cá nhân tương đồng với việc tham gia vào một tô chức cụ thé. Theo đó, sự gan bó với tô chức bao gồm ba yếu tổ chính: niềm tin vững chắc vào tổ chức, chấp nhận mục tiêu và giá trị của tổ chức, sẵn sàng công hiến cho tổ chức và mong muốn giữ vững tư cách thành viên của tô chức. Macey va Schneider (2008) đã đưa ra quan điểm riêng về sự gắn bó với tô chức, đó là sự sẵn sàng làm việc tích cực vì tổ chức, không chỉ vì mục đích cá nhân mà còn cho sự phát triển và thành công của tô chức. Đồng thời, họ cảm thấy tự hào khi là một thành viên của tổ chức và luôn muốn duy trì mối quan hệ gan bó chặt chẽ với tổ chức.
Điều này đòi hỏi người lao động phải thực sự đồng tình với giá trị, triết lý, mục tiêu và tầm nhìn của tô chức. Sự gắn bó này sẽ giúp người lao động tạo ra Sự cống hiến và sự cam kết lớn hơn trong công việc, tạo nên một môi trường làm việc tích cực và hiệu quả cho tô chức. Như vậy, sự gắn bó của nhân viên với tổ chức là trạng thái tâm lý thé hiện sự gắn kết của một cá nhân với một tổ chức, với nghề nghiệp; đó là lòng trung thành và sự nhiệt tình làm việc của nhân viên đối với tổ chức; đó là sự sẵn sang no lực hết minh vì tổ chức, luôn đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích của bản thân mình. Những nhân viên nếu gắn bó bằng tình cảm sâu sắc, mạnh mẽ sẽ có nhiều động lực làm việc cao hơn các nhân viên khác.
Nhìn chung, sự gắn bó làm cho nhân viên đóng góp nhiều hơn và duy trì lâu đài với công ty. Tầm quan trọng của sự gắn bó đối với tổ chức Theo trang PageUp (2022) về cuộc khảo sát "Sự gắn bó của nhân viên, Y tưởng cho hành động" được tiễn hành tại thị trường tuyên dụng của Úc, 83% những người tham gia khảo sát cho răng sự gắn bó của nhân viên rất quan trọng đối với tổ chức của họ và hơn 14% cho biết điều này đạt mức quan trọng "đôi chút". Chỉ có 3% cho rằng sự gắn bó của nhân viên không quan trọng. Mặc dù báo cáo này chi đại diện cho một phan nhỏ dân số toàn cầu, tuy nhiên tỷ lệ cao hơn cho thấy rõ tầm quan trọng của sự gắn bó của nhân viên, đủ để thuyết phục rằng đây là điều cần thiết cho một doanh nghiệp phát triển và thành công.
Sự gắn bó của nhân viên nên là một ưu tiên cho doanh nghiệp, đặc biệt là việc xem xét môi trường tài chính và kỹ năng hiện tại trong nhiều nền kinh tế lớn. Hays Global Skills Index (2015) cho thay, nhiều nước đang phải đối mặt với sự thiếu hụt nghiêm trọng của các ứng cử viên trong các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. Bên cạnh việc tìm kiếm nguồn lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công ty, nhà tuyên dụng cần tối đa hóa đầu tư nguồn nhân lực hiện có của họ. Điều này làm cho sự gắn bó của nhân viên quan trọng vì nhiều lý do, cụ thể: Thứ nhất, tỷ lệ duy trì nhân viên cao Trong bồi cảnh thị trường hiện nay dang khan hiếm ứng viên có tay nghề cao, việc tìm kiếm và cạnh tranh nhân viên chất lượng trở nên ngày càng khó khăn hơn.