Chương 1 cũng đề cập đến mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, khung nghiên cứu và kết cấu của luận án, cụ thể: (i) Mục tiêu: Tìm hiểu về các nhân tố tài chính và phi tài chính ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty phi tài chính tại Việt Nam, (ii) Câu hỏi nghiên cứu: Luận án đưa ra ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể, (iii) Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tài chính và phi tài chính ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam, (iv) Phạm vi nghiên cứu: Luận án trình bày việc giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các công ty phi tài chính niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam, (v) Những đóng góp của luận án, (vi) Kết cấu của luận án: luận án bao gồm 5 chương được trình bày lần lượt để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đề ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý KIẾN KIỂM TOÁN 2.1 Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới, các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán được nghiên cứu từ khá sớm và ở nhiều nước khác nhau. Hiện nay, các công trình chủ yếu phần lớn vẫn do nước ngoài thực hiện. Tại Việt Nam, theo hiểu biết của nghiên cứu sinh, mặc dù cũng đã có một vài công trình thực hiện nghiên cứu về chủ đề này tuy nhiên vẫn còn khá manh mún và hạn chế.
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý kiến kiểm toán trên thế giới rất phong phú và đa dạng nhưng chủ yếu tập trung ở 03 hướng chính: (i) Hướng thứ nhất, các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần như: (1) Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán có đoạn nhấn mạnh liên quan đến giả định hoạt động liên tục: Gallizo and Saladrigues (2016), Haron và cộng sự (2009), Defon và cộng sự (2002), Mutchler (1985), Thuy Thi Ha và cộng sự (2016)… (2) Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán có các vấn đề quan trọng: (Key Audit Matter): Catarina Ferreira và cộng sự (2019), Vanstraelen và cộng sự (2012), Caramanis và Spathis (2006)… (ii) Hướng thứ hai là các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến không phải loại chấp nhận toàn phần như: Yasar và cộng sự (2015), Tsipouridou and Spathis (2014), Spathis và cộng sự (2003), Craswell và cộng sự (2002)… iii) Hướng thứ ba tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến hai loại ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải loại chấp nhận toàn phần như: Zarei và cộng sự (2020), Zureigat (2014), Spathis (2003). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 03 hướng nghiên cứu chính về các nhân tố hình thành loại ý kiến kiểm toán Ý kiến chấp nhận Ý kiến không phải Ý kiến chấp nhận toàn phần loại chấp nhận toàn phần và ý kiến toàn phần không phải loại chấp nhận toàn phần Sơ đồ 2. Các hướng nghiên cứu chính về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán trên thế giới Nguồn: NCS tự tổng hợp Các nghiên cứu trước đây thể hiện một sự đa dạng và phong phú. Cùng một nhân tố nhưng áp dụng các phương pháp khác nhau, kiểm định ở các bối cảnh khác nhau nên có thể cho ra kết quả khác nhau.
Để tập trung vào nghiên cứu của mình, phần tổng quan tiếp theo dưới đây, NCS sẽ trình bày tổng quan về các nhân tố mà có khả năng ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà NCS đã xác định thông qua phỏng vấn sâu các chuyên gia (được NCS trình bày cụ thể ở chương 3).1 Tổng quan về thực trạng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết NCS thực hiện trình bày sơ bộ về thực trạng cũng như lịch sử các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề ý kiến kiểm toán ở mục này (2. Các phân tích về kết quả nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, biến và chiều ảnh hưởng sẽ được phân tích sâu hơn ở mục 2.3, từ đó sẽ làm rõ dần khoảng trống nghiên cứu thông qua 3 phần: 2. Khởi đầu của các nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán là công trình nghiên cứu của Altman và McGough (1974). Nghiên cứu này đã phát hiện ra 46,4% trong số lượng mẫu công ty phá sản là đã nhận được ý kiến kiểm toán có đoạn nhấn mạnh liên quan đến giả định hoạt động liên tục trước khi xảy ra sự kiện phá sản một năm.
Mục đích của nghiên cứu dự báo về sự phá sản của công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cụ thể, một tập hợp các tỷ lệ tài chính và kinh tế sẽ được điều tra trong bối cảnh dự báo phá sản, trong đó sử dụng nhiều phương pháp phân tích biệt số. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này chỉ giới hạn ở các tập đoàn sản xuất. Các biến được tác giả sử dụng trong mô hình bao gồm: vốn lưu động/tổng tài sản, lợi nhuận/tổng tài sản, EBIT/tổng tài sản, vốn hóa thị trường/giá trị sổ sách của nợ, doanh thu/tổng tài sản.
Như vậy có thể thấy, khởi đầu, nghiên cứu về chủ đề này chỉ được bắt đầu bằng các biến tài chính và giới hạn quy mô ở các tập đoàn sản xuất ở Hoa Kỳ. Mô hình này có khả năng dự báo chính xác lên đến 94%. Tiếp theo đó là nghiên cứu của McKee (1975) về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán có đoạn nhấn mạnh liên quan đến giả định hoạt động liên tục. Với phương pháp biệt số, tác giả đã dự báo được một tỷ lệ chính xác đến 87,18% với các nhân tố là các tỷ số tài chính.
Trong nghiên cứu này, mặc dù vẫn ở bối cảnh nước Hoa Kỳ nhưng tác giả đã mở rộng thêm biến so với nghiên cứu trước đây của Altman. Năm 1985, Mutchler đã sử dụng phương pháp biệt số và thực hiện nghiên cứu trên 119 công ty sản xuất cho mẫu 1 và 42 công ty cho mẫu 2 để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán. Ở nghiên cứu này, Muthcler đã mở rộng thêm biến phi tài chính bên cạnh biến tài chính so với các công trình nghiên cứu trước. Nghiên cứu sử dụng các biến tài chính: chỉ số vốn lưu động/Tổng nợ, chỉ số tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn, chỉ số tài sản thuần/Tổng nợ, chỉ số nợ dài hạn/tổng tài sản, chỉ số tổng nợ/tổng tài sản, chỉ số lợi nhuận trước thuế/doanh thu thuần và các biến phi tài chính: ý kiến kiểm toán năm trước, thông tin tốt xấu, sự cải thiện để xác định việc hình thành loại ý kiến kiểm toán.
Mô hình chứa chỉ số tài chính và biến ý kiến kiểm toán năm trước dự báo chính xác 89.9%, mô hình chứa chỉ số tài chính và thông tin tốt xấu dự báo chính xác 80. Năm 1986, Mutchler tiếp tục mở rộng thêm biến quy mô công ty kiểm toán và quy mô công ty được kiểm toán và tìm ra công ty có quy mô kiểm toán không phải Big 8 thường không đưa ra ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần (cụ thể trong nghiên cứu là ý kiến kiểm toán có giả định hoạt động liên tục) với công ty nhỏ có hoạt động tài chính suy giảm. Dopuch và cộng sự (1987) tại Thổ Nhĩ Kỳ đã sử dụng phân tích probit và nghiên cứu trên 218 quan sát ngoại trừ và 346 quan sát chấp nhận toàn phần. Nghiên cứu chỉ ra lợi nhuận năm hiện tại, sự thay đổi của lợi nhuận trừ đi lợi nhuận ngành ảnh hưởng theo thứ tự đến ý kiến kiểm toán.
Trong nghiên cứu này tác giả tập trung vào nghiên cứu 12 nhân tố tài chính và mối quan hệ của các nhân tố này tới ý kiến kiểm toán. Kết quả tìm ra biến lợi nhuận giữ lại là biến có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý kiến kiểm toán. Các biến khác cũng ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán bao gồm: vốn chủ sở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 hữu/tổng nợ phải trả, tổng nợ phải trả/tổng tài sản, thu nhập ròng/vốn chủ sở hữu, thu nhập ròng/tổng tài sản, vốn lưu động/tổng tài sản, doanh thu thuần/tổng tài sản. Tác giả mở rộng thêm biến phi tài chính so với công trình trước đây bao gồm: số năm niêm yết đồng thời thêm các biến về chỉ số thị trường như: hệ số beta, thay đổi độ của lệch chuẩn giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư, sự thay đổi của lợi nhuận trừ đi lợi nhuận ngành.
Như vậy so với công trình của Mutchler thì nghiên cứu không chỉ mở rộng ra ở bối cảnh nước Thổ Nhĩ Kỳ mà còn phát triển thêm các biến phi tài chính mới. Nghiên cứu được phát triển thêm một bước bằng cách bổ sung thêm các biến phi tài chính trong nghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988) tại bối cảnh mới. Nghiên cứu này được thực hiện trên 540 công ty nhỏ tại Vương quốc Anh trong khoảng thời gian từ 1980-1982 đồng thời sử dụng phân tích logistic đa biến với các biến tài chính và phi tài chính cho kết quả các công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán có quy mô lớn, lợi nhuận giảm, có độ trễ trong phát hành BCKiT, cổ đông không tham gia điều hành ít, có khoản vay đảm bảo, ý kiến kiểm toán năm trước là ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần thì có nhiều khả năng sẽ nhận ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần hơn. Như vậy, so với các công trình nghiên cứu trước (Mutchler) thì nghiên cứu này cũng tìm ra kết quả là biến ý kiến kiểm toán năm trước có ảnh hưởng cùng chiều với ý kiến kiểm toán năm nay.
Laitinen và Laitinen (1998) cũng phân tích logistic đa biến với cả biến tài chính và phi tài chính và thực hiện nghiên cứu trên số lượng mẫu là 111 BCKiT đã chỉ ra các công ty có mức độ tăng trưởng thấp hơn, vốn chủ sở hữu thấp hơn, số lao động ít hơn thì có khả năng nhận ý kiến không phải dạng chấp nhận toàn phần cao hơn. Độ chính xác của mô hình là 94. So với các công trình trước thì tại bối cảnh Phần Lan, tác giả đã kiểm định và cũng tìm ra kết quả tương tự với Keasey và cộng sự (1988) tại Anh là lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn phần.