CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã tập trung trình bày lý do chọn đề tài, qua đó xác định rõ mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu tiếp theo là phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Cuối cùng, chương này trình bày chi tiết cách hình thành cấu trúc của nghiên cứu, bao gồm bố cục 5 chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Ý định chọn nơi làm việc Ý định có nghĩa là thể hiện cho một dự định hay một kế hoạch quan trọng của con người đặt ra, thể hiện sự quyết tâm hay ý chí với nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể. Đây là bước đi đầu tiên không thể thiếu trong việc triển khai các chiến lược và đạt được thành công.
Ở bài nghiên cứu này, ý định được xem như là một yếu tố quan trọng để dự đoán và phân tích hành vi của con người. Khi tốt nghiệp hay thậm chí là ngay cả khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường sinh viên thường phải đối mặt với việc tìm kiếm cho mình một môi trường làm việc cho bản thân, đây là bước ngoặc đáng chú ý trong hành trình tìm kiếm việc làm. Quá trình này cũng không dễ dàng đối với các sinh viên khi chưa có kinh nghiệm. Khi họ lại có ý định làm việc tại DNNN là điều hết sức vô cùng khó khăn.
Điều này bởi vì đa số các DNNN đòi hỏi cao trong việc ứng tuyển. Bên cạnh tìm kiếm công việc liên quan đến các chuyên ngành đã học thì sinh viên còn quan tâm đến các yếu tố liên quan như: mức thu nhập, phúc lợi, cơ hội thăng tiến. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng lớn đế ý định làm việc của sinh viên khi tìm việc tại các các DNNN hay doanh nghiệp nước ngoài. "Ý định bao gồm các yếu tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi cá nhân.
Các yếu tố này thể hiện mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân phải bỏ ra để thực hiện hành vi. Ý định là ý muốn và những dự định về một việc gì đó" (Nguyễn Như Ý, 1999). Do đó, có thể hiểu rằng, ý định là trạng thái tâm lý của mỗi con người, chúng được hình thành từ việc xem xét sự cân nhắc và suy nghĩ về những thứ mà họ mong muốn đạt được thông qua một sự việc hay hành động cụ thể nào đó. Theo nghiên cứu của Trần Thị Kim Hà (2018), ý định chọn nơi làm việc được định nghĩa là: “Ý định làm việc ở tổ chức nào đó là ý muốn và dự định chủ quan của một người phải làm và tổ chức đó là một nơi sẽ được chọn để làm việc”.2 Doanh nghiệp nhà nước Theo khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là “Các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, theo quy định tại Điều 88 của Luật này.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 88, doanh nghiệp nhà nước có thể được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, bao gồm hai loại: thứ nhất là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, và thứ hai là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, ngoại trừ những doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này”. Các loại doanh nghiệp do Nhà nước có 100% vốn điều lệ Dựa vào khoản 2 Điều 88 của Luật Doanh nghiệp 2020, các doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ do Nhà nước sở hữu bao gồm các loại hình sau: Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ đóng vai trò là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước, hoặc công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con. Ngoài ra, còn có công ty TNHH một thành viên hoạt động độc lập với nhà nước giữ toàn bộ vốn. Các loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữa 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết Quy định tại khoản 3 Điều 88 Luật Doanh nghiệp 2020, cụ thể trong Mục 1(ii), gồm các loại hình công ty như sau: Thứ nhất, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, hoặc công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con.
Thứ hai, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Hiện tại, có ba loại hình doanh nghiệp nhà nước phổ biến, bao gồm: Công ty TNHH một thành viên toàn bộ vốn điều lệ do Nhà nước nắm giữ; Công ty TNHH 10 hai thành viên trở lên, trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; và Công ty cổ phần do mà Nhà nước giữ trên 50% số cổ phần có quyền biểu quyết. Đặc điểm: - Sở hữu vốn: DNNN là đơn vị do Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác nắm giữ quyền sở hữu. Trong trường hợp Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất, mọi vấn đề liên quan đến sự thành lập, tái cơ cấu và quản lý hoạt động của doanh nghiệp đều do nhà nước đưa ra quyết định.
Điều này bao gồm việc xác định phương hướng phát triển, xây dựng chiến lược kinh doanh, quản lý nguồn vốn và thực hiện giám sát để đảm bảo các mục tiêu được hoàn thành. - Tình trạng pháp lý: Chính phủ có khả năng nắm giữ hoàn toàn vốn đăng ký (100%) hoặc một phần đáng kể vốn đầu tư (trên 50% nhưng không quá 100%). - Trách nhiệm tài sản: DNNN là tổ chức độc lập về pháp lý với trách nhiệm là phải bảo vệ tài sản của mình, trong khi Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm có giới hạn trong số vốn đã góp vào doanh nghiệp. - Hình thức tồn tại: DNNN có thể được hình thành nhiều hình thức khác nhau, bao gồm công ty nhà nước, công ty cổ phần có vốn do nhà nước chi phối, công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH do nhà nước làm chủ sở hữu và nắm giữ toàn bộ vốn.
Trong trường hợp, Nhà nước nắm giữ hơn phân nữa vốn điều lệ, DN có thể hoạt động dưới dạng công ty cổ phần hoặc công ty TNHH có vốn nhà nước.2 Các lý thuyết liên quan 2.1 Thuyết hành động hợp lý ( Theory of Reasoned Action – TRA) Học thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng bởi Fishbein và Ajen 1975, thường được sử dụng để dự báo các ý định hoặc hành vi của con người. Một trong những cốt lỗi quan trọng nhất của thuyết này là xác định hành vi của con người với ý định hoặc mong muốn thực hiện hành vi đó. Ý định này sẽ chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố: Thái độ của một người về hành vi đó và Chuẩn chủ quan của người thực hiện hành vi đó. Thái độ của cá nhân có thể là một cảm xúc tích cực 11 hoặc tiêu cực với một hành động hoặc hành vi cụ thể, và có thể đánh giá hành động dựa vào niềm tin đó (Hale, 2003).
Chuẩn mực chủ quan là phản ánh sự ảnh hưởng từ những người thân thiết như gia đình như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, góp ý họ có nên thực hiện hành vi này hay không (Fishbein & Ajzen, 1975), việc này có thể được đánh giá thông qua sự kỳ vọng của những người xung quanh và mục tiêu cá nhân để đáp ứng những mong đợi đó (Fishbein & Ajzen, 1975, tr16).Thái độ đối với 2. hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA (Nguồn: Fishbein & Ajzen, 1975) Thông qua thuyết này, có thể suy ra rằng ý định chọn nơi làm việc của sinh viên cần xuất phát bằng sự tự do và sự tự nguyện của họ. Để thu hút sinh viên sau khi tốt nghiệp làm việc tại các DNNN thì từ phía DNNN triển khai các chính sách hấp dẫn nhằm tạo ra thái độ tích cực từ phía người tìm việc. Với thuyết này, ý định của sinh viên sẽ bị ảnh hưởng đến ý định chọn DNNN sau khi tốt nghiệp.
Bởi vì, ý định này chịu tác động từ chuẩn mực chủ quan và thái độ của họ, nếu họ thấy công ty tốt có nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn, họ sẽ có ý định chọn nơi đó làm việc. Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có những biện hấp dẫn, sinh viên sẽ không có ý định ứng tuyển vào đó.2 Thuyết hành vi có kế hoạch ( TPB – Theory of Planned Behavior) Lý thuyết TPB của Ajzen (1991), và được mở rộng từ thuyết TRA do Ajzen và Fishbein phát triển (1975), nhằm dự đoán ý định của cá nhân tham gia vào hành vi cụ thể tại thời điểm và nơi xác định. TPB còn bổ sung thêm một yếu tố hành vi, bên cạnh hai thành phần chính là thái độ và chuẩn mực chủ quan đối với hành vi. Nó nói 12 về mức độ dê hay khó khi thực hiện một hành vi.
Trong thuyết này, ý định thực hiện hành vi có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi và bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan, cũng như là nhận khả năng soát hành vi. Khi cả 3 này đều mạnh thì ý định thực hiện hành vi sẽ tăng lên và làm tăng khả năng thực hiện hành vi đó. Thái độ Chuẩn chủ Ý định hành vi Hành vi quan Kiểm soát hành vi Hình 2.2 Mô hình thuyết hành vi có kế hoạch-TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) 2.3 Lý thuyết Maslow Bất kỳ ai khi tìm một công việc hoặc lực chọn nơi làm việc cũng đều mong muốn làm việc ở một nơi có đầy đủ tiện nghi, được công nhận kết quả mà chính bản thân tạo ra, được hưởng các chính sách lương hay lộ trình thăng tiến rõ ràng và minh bạch. Chính vì thế mà thuyết nhu cầu Maslow được áp dụng làm lý thuyết nền tảng cho bài nghiên cứu này.
Lý thuyết nhu cầu của Maslow, do nhà tâm lý học Maslow phát triển, mô tả các nhu cầu này dưới nhiều hình thức và các cấp độ khác nhau của con người.