Chương 1: Gii thiu Trình bày về cơ sở lý luận về thanh toán b ằng mã QR, ý định hành vi thanh toán bằng mã QR và t ổng quan về nghiên c ứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong chương này nghiên cứu sẽ trình bày các vấn đề bao gồm: Tổng quan về thanh toán tr ự tuyến bằng mã QR; Các khái niệm nghiên c ứu có liên quan đến đề tài; Các công trình nghiên cứu trước đây; Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu. T ừ đó, nhóm tác giả xây dựng các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung trong chương này, nghiên cứu sẽ trình bày v ề khái quát về phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu; Xây dựng thang đo nghiên cứu; Trình bày phương pháp lấy mẫu nghiên cứu và các phương pháp phân tích dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, nghiên cứu sẽ trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm: Mô tả mẫu nghiên cứu; Trình bày các kết quả về kiểm định thang đo; Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết luận Trong chương này, nghiên cứu trình bày tóm t ắt và bàn luận các kết quả nghiên cứu; Các đóng góp của nghiên cứu và trình bày hàm ý quản trị. Ngoài ra, nghiên cứu còn trình bày những hạn chế trong nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 17 0 0 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này nghiên cứu sẽ trình bày các vấn đề bao gồm: Tổng quan về thanh toán tr ự tuyến bằng mã QR; Các khái niệm nghiên c ứu có liên quan đến đề tài; Các công trình nghiên cứu trước đây; Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu.
Từ đó, nhóm tác giả xây dựng các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu.1 Tổng quan về thanh toán trực tuyến bằng mã QR Năm 2019, người dân châu Á chi khoảng 25 nghìn tỷ USD qua thẻ, nhưng chi tới 51 nghìn tỷ cho thanh toán di động - đứng đầu các phương thức thanh toán số (Theo NTT Data Japan). Trong đó hình thứ c thanh toán b ằng mã QR đang dần khẳng định sự tiềm năng của mình. Cụ thể theo số liệu mới nhất, hai ứng dụng hỗ trợ thanh toán mã QR là WeChat Pay của Tencent đã vượt 900 triệu người dùng, Alibaba Alipay là hơn 500 triệu người dùng, tổng tài khoản kích hoạt đã ngang bằng dân số Trung Quốc. Tại Nhật Bản, mã QR cũng phát triển mạnh, nhiều cửa hàng đứng trước lựa chọn, hoặc chấp nhận thanh toán bằng mã QR, hoặc mất doanh thu do không tạo được sự tiện dụng trong thanh toán.
Cùng những cột mốc phát triển trên thị trường thanh toán điện tử đó, sự bùng nổ về di động c ủa Việt Nam như đã mở đèn xanh cho mã QR trở thành một xu hướng công nghệ trong tương lai tại khu vực. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, người Việt chi gần 20.000 tỷ đồng mua smartphone trong 3 tháng đầu năm 2017. Việt Nam có dân số hơn 90 triệu người với phần lớn là người trẻ, khoảng một nửa dân s ố được tiếp xúc nhiều với Internet và đến 70% dân số sử dụng smartphone. Với tỷ lệ này, Việt Nam đang đứng thứ h ạng cao ở châu Á – Thái Bình Dương và thế giới.
Bên cạnh đó, nhóm khách hàng sử dụng smartphone hiện nay hầu hết là những người trẻ, có kiến thức và ham trải nghiệm. Họ ưa chuộng các phương thức thanh toán mới, đặc biệt là các phương thức được tích hợp trên nền tảng di động, giúp cho việc kết nối thanh toán một cách dễ dàng, thuận tiện mà không phải dùng tới tiền mặt hay mang thẻ bên mình. Chính vì thế, thanh toán bằng mã 18 0 0 QR đang có nhiều cơ hội phát triển tại Việt Nam. Theo cuộc khảo sát về vấn đề mua sắm trực tuyến của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) thì có đến 40% người dùng smartphone sử dụng điện thoại thông minh để mua s ắm.
Theo Euromonitor dự đoán, tổng giá tr ị thanh toán bằng mã QR c ủa thị trường Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam sẽ đạt khoảng 32 tỷ USD trong năm 2021, gấp 10 lần so với năm 2013. Trong cuộc trao đổi giữa Báo Công Thương đã trao đổi với bà Đặng Tuyết Dung - Giám đốc Việt Nam và Lào của Visa, bà cho biết: “Tính đến hết tháng 6/2019, Việt Nam đang có 134,5 triệu thuê bao di động (trong đó có trên 51 triệu thuê bao sử dụng 3G, 4G) và có 70% dân số sử dụng điện thoại thông minh nên việc thanh toán bằng mã QR được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển”. Ngoài ra theo khảo sát về thái độ thanh toán c ủa người tiêu dùng khu vực Đông Nam Á do phía công ty Visa thực hiện vào năm 2019, số người biết đến các hình thức thanh toán bằng mã QR đã tăng đến 81%, và có 19% số người được khảo sát tại Việt Nam đã sử dụng hình thức thanh toán này. Nhìn chung, con số đó so với những gì mà các điều có thể khai thác tại thị trường tiềm năng như Việt Nam là vô cùng đột phá.
Về tình hình thanh toán bằng mã QR trong ngành bán lẻ tại Việt Nam, các chuyên gia cho rằng v ới số lượng th ẻ ngân hàng dự kiến khoảng 150 triệu vào năm 2018 và chủ yếu t ập trung ở người tiêu dùng trẻ tuổi, thị trường di động với 130 triệu thuê bao và 70% s ử dụng smartphone sẽ là bước tạo đà cho sự phát triển của mã QR với quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam là 150 tỷ USD vào năm 2020 với mức tăng trưởng 10%/năm. Cụ thể cho những nghiên cứu trên, mới đây dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Trung ương Thái Lan thì dự án: “Kết nối thanh toán bán lẻ s ử dụng mã QR giữa Việt Nam và Thái Lan” đã được hoàn thành vào ngày 26/3/2021 với 2 đơn vị nồng cốt là Công ty CP Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) và Công ty Chuyển mạch Thái Lan (NITMX). Từ những yếu tố, sự kiện đang diễn ra thì những nhà bán lẻ không thể nào không quan tâm đến sự quan trọng của mã QR hiện tại. Đó là một sự hòa nhập, đổi mới, bước tiến giúp doanh nghiệp bán lẻ trụ vững, phát triển hơn trong thời 19 0 0 đại công nghệ này đặc biệt những nhu cầu, sự chuyển đổi sở thích của người tiêu dùng diễn ra ngày càng ph ức tạp.2 Các khái nim nghiên cứu c liên quan đến đề ti 2.1 Cm nhận sự bo mật (Perceived S ecurity) Nhìn chung, sự bảo mật là tập hợp các quy trình, cơ chế và chương trình máy tính để xác thực các nguồn thông tin và đảm bảo sự toàn v ẹn và riêng tư của thông tin (dữ liệu) nhằm tránh tình trạng các thông tin, dữ liệu quan trọng bị đánh cắp gây ra nhiều khó khăn trong kinh tế hoặc phục hồi tài nguyên mạng.
Bảo mật liên quan đến thanh toán iện tử bao gồm 3 lĩnh vực sau đây: - Bảo mật và triển khai cơ sở hạ tầng - Các giao dịch bảo mật để đảm b ảo thanh toán theo các quy tắc được xác định và xác định đúng - Theo Tsiakis và Sthephanides (2004) nghiên cứu về bảo mật pháp lý và khung pháp lý cho thanh toán điện tử. Khái niệm bảo mật và tin tưởng trong thanh toán điện tử (Máy tính và bảo mật, 2005).2 Cm nhận sự hữu ích (Perceived Usefulness) Theo nghiên cứu của Rosario Raymundo (2017) về “QR as mobile learning tools for labor room nurses” cho rằng: “Hữu ích là cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về khả năng đáp ứng nhu cầu của sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Chức năng và khả năng sử dụng của sản phẩm là sự cấu thành chính tạo nên sự hữu ích. Về cơ bản, chức năng và khả năng sử dụng được xác định bởi sự đáp ứng nhu cầu với khả năng tương ứng của một sản phẩm.
Sự hữu ích của sản phẩm thường được xác định là mức độ dễ sử dụng và niềm vui khi sử dụng sản phẩm hoặc dịch v ụ. Cả khả năng sử dụng và chức năng của sản phẩm là bắt buộc trong tiếp thị; chúng hòa hợp với nhau khác và cùng nhau tạo nên sự hữu ích của sản phẩm.3 Cm nhận về sự dễ sử dụng (Perceived Easy to Use) Theo Davis (1989), Taylor và Todd (1995) cho r ằng việc dễ sử dụng đề cập đến nhận thức của một cá nhân là sử dụng một hệ thống cụ thể nào đó một cách dễ dàng hoặc dễ thực hiện tác tương tác. Trong nghiên c ứu của 20 0 0 Kourouthanassis, Giaglis, và Karaiskos (2010) đề cập đến việc thiết kế khảo sát của một dự án thì phải hoàn toàn thích ứng với khả năng và kỹ năng của người dùng dự kiến, điều này đặc biệt đúng với những người không rành về công nghệ thông tin. Do đó, đây được coi là thuộc tính có ảnh hưởng nhất trong việc áp dụng một công nghệ mới (Moore và Benbasat, 1991).
Venkatesh (2000) nhận thấy rằng cảm nhận sự dễ sử dụng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ đối với việc sử dụng công nghệ thông tin, cũng như cảm nhận sự h ữu ích, do đó nó được đưa vào nghiên cứu này để đo lường. Ngoài ra, Bruner và Kumar (2005) Sánchez-Franco, Rondán, và Villarejo (2007) đã xác nhận sự tồn tại của những ảnh hưởng của việc dễ sử dụng đối với cảm nhận sự hữu dụng và thái độ đối với việc sử dụng công nghệ. Ảnh hưởng của cảm nhận sự dễ sử dụng trên cảm nhận sự hữu ích cũng đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu được áp dụng trong các bối cảnh khác nhau (Sánchez-Franco, Rondán,Villarejo, 2007; Featherman, Miyazaki, Sprott, 2010; Huarng, Yu, Huang, 2010; Hernández- García và đồng tác giả, 2011) và mối quan hệ giữa sự hữu ích, thái độ và ý định cũng đã được ghi lại đầy đủ bởi Texas A và M International University.4 Cm nhận sự thích thú (Perceived Enjoy) Một số nghiên cứu điề u tra việc ảnh hưởng của cảm nhận sự thích thú trong các nghiên cứu sử dụng máy tính. Van der Heijden (2003) đã mở rộng TAM gốc với cảm nh ận sự thích thú trong một cuộc khảo sát điều tra việc sử dụng các trang web.
Một dự án nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng của sự thích thú đã chỉ ra rằng tốc độ tiếp cận, nội dung, sự đa dạng và sự tập trung là những yếu tố quan trọng nh ất (Chung và Tan, 2004).