Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV Chương 3: Thực trạng lựa chọn nguồn tài trợ của DNNVV Tây Bắc Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NGUỒN TÀI TRỢ VỐN CỦA DNNVV 2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2. Tổng quan về lựa chọn tài trợ vốn của DNNVVV Các DNNVV là bộ phận năng động và có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của mọi quốc gia, thường chiếm từ 95% đến 98% tổng số doanh nghiệp. Không chỉ góp phần tăng trưởng GDP, các DNNVV còn là lĩnh vực chủ chốt trong tạo việc làm, thúc đẩy tiến bộ công nghệ và nâng cao mức sống của người dân (Hallberg, 2000, Lê Xuân Bá 2006, Hồ Sỹ Hùng 2007).
Mặc dù vậy, các DNNVV đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như: sản phẩm kém chất lượng, công nghệ, thiết bị lạc hậu, thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý hạn chế, …và đặc biệt tình trạng thiếu vốn. Nghiên cứu của Ayyagari et al (2006), Tambunan (2008) cho rằng đại đa số các DNNVV ở các quốc gia đều gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Mặc dù các nguồn tài trợ vốn cho DNNVV rất đa dạng. Nghiên cứu của Chittenden et al (1996), Berger and Udell (1998), Baldwin, Gellaty và Gaudreault (2002), Bakker and Klapper (2004) cho rằng các DNNVV có thể huy động tài trợ từ bên trong như: vốn tự có, lợi nhuận giữ lại hoặc các nguồn tài trợ bên ngoài như: các khoản vay từ gia đình, bạn bè, các đối tượng cho vay cá nhân, tín dụng thương mại, quỹ đầu tư mạo hiểm, bao thanh toán, tín dụng từ các tổ chức tài chính, .Về lý thuyết, các DNNVV có hoạt động kinh doanh tốt thì thể lựa chọn nguồn tài trợ vốn mà họ cần trong điều kiện các thông tin đều sẵn có.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Peirson và cộng sự (1999) cho rằng luôn tồn tại sự bất cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay nên nghiên cứu của Ang (1991) đã đề xuất một trật tự ưu tiên lựa chọn nguồn tài trợ dựa trên quan hệ giữa chi phí và tổng vốn đầu tư được minh họa trong hình 2.1 9 Chi phí tài trợ CP vốn góp mới Vốn đóng góp mới CP đi vay mới Nợ vay mới D3 Cp vốn nội bộ Vốn nội bộ D2 D1 Tổng số vốn đầu tư Hình 2.1: Trật tự ưu tiên các nguồn tài trợ Nguồn: Ang, J. (1991) D1, D2 và D3 đại diện cho lịch trình nhu cầu đầu tư. Khi nhu cầu đầu tư là thấp tại D1 thì vốn đầu tư được tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ, tại đó chi phí vốn tương đối rẻ hơn. Nếu nhu cầu đầu tư tại D2, sau khi đã hết quỹ nội bộ, các quỹ bên ngoài được sử dụng cụ thể là trong các hình thức vốn vay.
Cuối cùng, nếu nhu cầu đầu tư là rất cao ở D3, góp vốn mới được sử dụng sau khi nội lực và vốn vay đã cạn kiệt. Trong số các nguồn tài trợ cho DNNVV thì nguồn tài trợ từ tín dụng ngân hàng là quan trọng và phổ biến nhất ở hầu hết các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển (Carey và Flynn, 2005) do sự kém phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng và các tổ chức tài chính. Tuy nhiên, các ngân hàng lại phân phối tín dụng không hiệu quả, thiếu công bằng với các DNNVV do bị chi phối bởi Chính Phủ nên đã quá ưu ái cấp tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước (Perotti, 1993). Điều này cũng dẫn đến tình trạng khan hiếm tín dụng và hạn chế tiếp cận tín dụng cho các 10 DNNVV (Sherif và cộng sự 2002).
Ngoài ra Peirson và cộng sự (1999) cho rằng luôn tồn tại sự bất cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay và đây là một trở ngại rất lớn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNNVV (Berger và Udell, 1998). Những trở ngại trong tiếp cận tín dụng dẫn đến nhiều doanh nghiệp có quan điểm không muốn đi vay (tham gia tín dụng). Bên cạnh đó, nghiên cứu của Kon và Storey (2003) chỉ ra có nhiều doanh nghiệp “Đủ khả năng” cũng không muốn sử dụng nợ trong cơ cấu vốn mặc dù các doanh nghiệp này có nhu cầu đi vay và mở rộng quy mô vì họ nghĩ rằng hồ sơ vay vốn của họ sẽ bị từ chối. Một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra phần lớn các DNNVV không sử dụng nợ trong cơ cấu vốn.
Kết quả điều tra của Ngân hàng thế giới năm 2012 cho thấy trung bình chỉ có 36% các DNNVV đi vay, có nghĩa là hơn 60% số DNNVV không tiếp cận với nguồn vốn vay. Tuy nhiên, có rất ít tài liệu nói về tình trạng các doanh nghiệp tốt không đi vay vì sợ bị từ chối hoặc đã vay nhiều lần nhưng không được vì nhóm đối tượng này các ngân hàng rất khó có được thông tin và nó cũng không ảnh hưởng đến rủi ro trong danh mục cho vay của ngân hàng. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp khi chấp nhận tham gia tín dụng lại có xu hướng lựa chọn tín dụng không chính thức làm nguồn tài trợ chính. Nghiên cứu của McMillan và Woodruff (1999) chỉ ra nguồn tín dụng phi chính thức gồm các khoản vay từ người thân, bạn bè, tín dụng thương mại được các DNNVV sử dụng thường xuyên ở Mexico trong khi đó chỉ có khoảng 2,5% số doanh nghiệp được khảo sát có vay ngân hàng trong giai đoạn khởi nghiệp.
Tương tự như vậy, dựa trên kết quả khảo sát được tiến hành ở Nagppur, Ấn Độ, Kampala và Uganda, Aliber (2002) chỉ ra rằng các nguồn tín dụng không chính thức tại Ấn Độ còn quan trọng hơn so với các nguồn tín dụng chính thức ở trên khía cạnh trong giai đoạn khởi nghiệp va duy trì hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, việc lựa chọn tín dụng ở các nước có khác nhau. Tại các nước phát triển thì vốn tự có và tín dụng ngân hàng là các nguồn tài trợ chính của DNNVV. Nghiên cứu của của Hughes (1997) sử dụng dữ liệu điều tra khảo sát 11 DNNVV tại Anh trong giai đoạn 1987-1989 cho thấy các DNNVV phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại nhưng tín dụng ngân hàng mới là nguồn quan trọng nhất.
Ngoài ra, các nguồn đến từ thuê tài chính, vốn góp cổ đông, bao thanh toán cũng là lựa chọn của DNVVN tại Vương quốc Anh. Một nghiên cứu khác cũng được tiến hành tại Anh là của Doherty (2013) chỉ ra các DNNVV ngoài huy động vốn từ các nguồn tín dụng truyền thống như: vay ngân hàng, thấu chi, thẻ tín dụng thì có đến 22% số doanh nghiệp khảo sát lựa chọn tài trợ vốn từ công chúng qua phát hành các giấy tờ có giá. Nghiên cứu Berger and Udell (1998) sử dụng dữ liệu khảo sát cấp quốc gia tại Mỹ năm 1993, qua quá trình phân tích, đánh gia hai ông đã kết luận các DNNVV sử dụng nhiều nhất vốn tự có, sau đó đến tín dụng từ các ngân hàng và tín dụng của nhà cung cấp (tín dụng thương mại), ba nguồn vốn này chiếm 70% tổng nguồn vốn mà các DNNVV sử dụng cho kinh doanh. Tại các quốc gia kém phát triển thì nguồn vốn tự có và tín dụng không chính thức được các DNNVV ưu tiên lựa chọn.
Nghiên cứu của Amissah và Gbandi (2014) chỉ ra rằng DNNVV ở các nước châu Phi lượng vốn vay ngân hàng chỉ chiếm 15% tổng vốn, thay vào đó DNNVV chọn vốn từ các chương trình hỗ trợ cho vay doanh nghiệp xã hội của Chính phủ, nguồn này chiếm khoảng 38%, còn lại là các nguồn từ nguồn phi chính thức như bạn bè, gia đình, người thân, tín dụng tư nhân. Tại Việt Nam các nghiên cứu cũng chỉ ra đặc điểm lựa chọn tài trợ vốn của các DNNVV là vốn tự có, vay ngân hàng và vay bạn bè, người thân. Nghiên cứu của Trương Quang Thông (2009) về lựa chọn vốn của DNNVV Hồ Chí Minh đã chỉ ra khi mới thành lập tỷ lệ vốn điều lệ chiếm tỷ lệ rất cao (73,20%) nhưng đến thời điểm khảo sát thì tỷ lệ này đã giảm còn 64,90% thay vào đó là do sự gia tăng của các nguồn vốn khác: nợ nhà cung cấp, vay ngắn hạn ngân hàng, vay dài hạn ngân hàng và vay khác (vay nội bộ, bạn bè, người thân. Cơ cấu nguồn vốn của DNNVV Hồ Chí Minh Đơn vị tính: % Nợ nhà Vay NH Vay DH Vay Vốn Tình hình cung cấp ngân hàng ngân hàng khác điều lệ Lúc mới thành lập 11.2 Thời điểm khảo sát 14.9 Nguồn: Trương Quang Thông (2009) Trần Thị Thanh Tú, Đinh Thị Thanh Vân (2015) qua nghiên cứu chỉ ra các DNNVV Hà Nội có vốn chủ sở hữu chiếm từ 48% đến trên 76% tùy theo loại hình và lĩnh vực, vốn vay chiếm từ 20% - 27%, vốn khác chiếm từ 5% đến 7,5 %.
Ngô Mai Linh (2015), đã chỉ ra theo kết quả khảo sát do Cục Phát triển DNNVV phối hợp với UNIDO thực hiện năm 2014 thấy: Trong cơ cấu nguồn vốn của DNNVV, tỷ trọng vốn vay NH đến trên 45%, vốn tự có chiếm 36,25%, các nguồn vốn khác là 18,44%. Nghiên cứu của CIEM (2013) cho 80% DNNVV Việt Nam vay vốn từ các tổ chức phi tài chính, hoặc là từ gia đình /bạn bè, chỉ có 20% doanh nghiệp có thể vay vốn từ các ngân hàng. Đôi khi, DNNVV còn phải trả cho việc vay nóng lãi suất cao hơn từ 3-6 lần nếu so sánh với lãi suất của vốn vay ngân hàng. Trong một số các cơ sở lý giải cho việc lựa chọn nguồn vốn của DNNVV đã được kiểm chứng là dựa trên lý thuyết cơ cấu vốn.
Nghiên cứu của Bradley và cộng sự (1984), Friend và Lang (1988), Beck và Levine (2004), Beck và cộng sự (2005) cho thấy có mối quan hệ giữa quy mô của doanh nghiệp và lựa chọn vốn. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Marsh (1982) chỉ ra mối quan hệ của tỷ lệ tài sản cố định và lựa chọn vốn. Ngoài ra, nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995), Booth và cộng sự (2001) cho rằng có mối quan hệ giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và lựa chọn nguồn vốn. Nghiên cứu của Kester (1986), Kim và Sorensen (1986).
Chaplinsky và Niehaus (1993) chỉ ra mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng và lựa chọn vốn. Nghiên cứu của Agrebi (2009) chỉ ra mối quan hệ giữa các giai đoạn phát triển, lĩnh vực kinh doanh và lựa chọn vốn. Cuối cùng, nghiên cứu của Tagoe và cộng sự (2005),. Berry và cộng sự (1993) chỉ ra mối quan hệ giữa báo cáo tài chính được kiểm toán và lựa chọn vốn.