Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hành vì của khách hàng cá nhân trong việc lựa chọn ngân hàng giao dịch Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tô ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số hàm ý về mặt chính sách CHUONG 1 CO SO LY THUYET VE HANH VI CUA KHACH HANG CA NHAN TRONG VIỆC LỰA CHỌN NGÂN HANG GIAO DICH 1. NHỮNG VẤN DE CO BAN VE HANH VI KHACH HANG CÁ NHÂN TRONG VIỆC LỰA CHỌN NGÂN HÀNG GIAO DỊCH 1. Tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại a. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Đây là hình thức huy động vốn truyền thông của ngân hàng.
Với loại tiền gửi nảy, người gửi được ngân hàng giao cho một số tiết kiệm, trong thời gian gửi kiệm, số tiết kiệm có thể dùng lảm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn ngân hàng. Phân loại và đặc điềm tiền gửi tiết kiệm * Theo thời hạn gửi tiền bao gồm: - Tiền gửi không kỳ hạn: Là hình thức tie gửi tiết kiệm mã khách hàng có thể rút ra một số lượng không hạn chế bất kỳ lúc nào. Ở các nước phát triển, có hai hình thức tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thông dụng lả tải khoản tiền gửi tiết kiệm lập số (pass-book savings) va tai khoản tiền gửi tiết kiệm thông báo (statement savings deposits). Tài khoản tiết kiệm lập số được cung cấp cho khách hàng là gia đình với giá trị nhỏ vả có đặc quyền rút vốn không hạn chế.
Loại tiền gửi này lãi suất nhó và ít nhạy cảm với lãi suất. Tại Mỹ, doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan của chính phủ cũng có thể sử dụng tài khoán tiết kiệm nhưng giới hạn quy mô tiền gửi tối đa là 150. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm thông báo cho phép khách hảng xem được số dư và các lệnh rút tiền của tải khoản trực tuyến. Tuy nhiên, hiện nay các ngân hàng vẫn sử dụng hình thức lập số truyền thống.
Mỗi khi cần rút tiên, khách hàng sẽ trình quyển số này cho ngân hàng tại quầy giao dịch. Tại Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm không ki hạn cho cá nhân cũng theo. hình thức mỡ số. ~ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn: Đây là hình thức gửi tiết kiệm dưới một năm.
~ Tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn: Đây là hình thức tiền gửi tiết kiêm có thời hạn trên một năm. [ I3, tr 30-31] * Theo mục đích hay hình thức của các khoản tiết kiệm ~ Tiền gửi có kỳ hạn “mua được”: Đây là những khoản tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất cỗ định nhưng khách hàng có thê chuyên khoản tiền gửi này sang tải khoản thanh toán đề sử dụng bắt cứ lúc nào mà không bị phạt lãi suất. Tuy nhiên, khách hảng phải thông bảo cho ngân hàng và việc chuyển tiền sẽ được ngân hàng thực hiện trong vòng 24 giờ, số tiền mỗi lần sử dụng phải vượt quá một hạn mức do ngân hàng quy định. Hình thức tiền gửi này được áp dụng rất phổ biến tại các nước Bắc Mỹ trong vài năm gần đây.
~ Trái phiểu tiết kiệm: Đây là những khoản tiền gửi có thời hạn dải. Khách hàng có quyền rút ra sau 3 tháng nhưng bị phạt lãi suất ~ Tiền gửi tiết kiệm tiêu dùng: Bao gồm: + Tiết kiệm dé mua nhà: Hình thức tiết kiệm nay có thời hạn đài (thời hạn ít nhất S năm). Khách hàng nộp tiên vào tài khoản ở lần đầu tiên và hàng năm phải nộp tiền vào tải khoản một số tiên tối thiểu theo thỏa thuận trước với ngân hang. Thông thường, khí khoản tiết kiệm của khách hàng đạt đến một mức thỏa thuận khi ký kết hợp đồng, căn cứ vào tình hình gửi tiên vào tải khoản của khách hàng mà ngân hàng có thể xem xét cho khách hàng vay thêm tiên để mua nhà.
Khoản tiền vay sẽ được bảo đảm bằng chính ngôi nhà của khách hàng và được trả dần hàng năm. + Tiết kiệm cho con đi học. + Tiết kiệm hưu trí: Góp hàng tháng để sử dụng khi về già. Thông thường đối với hinh thức nảy, ngân hàng cỏn thực hiện kèm theo địch vụ bảo hiểm, nếu khách hàng chết trước khi hợp đồng kết thúc, thân nhân sẽ được.
nhận một số tiền nhất định được quy định rõ khi ký kết hợp đồng. + Tiết kiệm dưới hình thức đầu tư vào các qu? đầu tư của ngân hàng: Đầu tư vào quỹ đầu tư chứng khoán, bất động sản,.của ngân hàng. [3, tr 30-31] œ Cúc nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM Cũng như các loại hình kinh doanh khác, hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng thương mại chịu tác đông bởi nhiều nhân tô. Có thể chia làm hai nhóm cơ bản như sau: * Nhân tô khách quan ~ Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tổ ảnh hường đến khả năng thu nhập, thanh toán, chỉ tiêu, nhu cầu vốn và gửi tiền của dân cư.
Các yếu tổ của môi trường kinh tế như: thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ xuất nhập khâu, tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc dân, tỷ lệ lạm phát, sự ồn định vẻ kinh tế, chính sách đâu tư, tiết kiệm của chính phủ. Môi trường kinh tế có tác động rất mạnh mẽ đến nhu câu và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Do vậy, nó chỉ phối đến hoạt động của ngân hàng như công tác huy động vốn và khả năng thỏa mãn nhu cầu vốn cùng các địch vụ tải chính cho nền kinh tế. Tình hình và sự thay đổi của các yêu tố thuộc môi trường kinh tế có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế nói chung và hoạt động kinh đoanh của ngân hàng nói riêng.
Môi trường kinh tế vừa tạo cho ngân hàng những “cơ hội” kinh doanh đồng thời cũng tạo ra cả những “thách thức” đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Khi nên kinh tế trong nước rơi vào suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp tăng cao, hoạt động của các doanh nghiệp sụt giám thì nhu cầu đối với các sản phẩm tải chính cũng suy giảm, môi trường kinh doanh không thuận lợi. Ngược lại, khi nên kinh tế trong nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, các biến số kinh tế vĩ mô đều có dấu hiệu tốt, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ là cơ hội tốt cho. hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân nói riêng.
Ngân hảng thương mại nhận tiên gửi từ dân cư và các tô chức kinh tế, trong đó nguồn tiền gửi tiết kiệm từ cư dân thường có tính ôn định và dài hạn. Năng lực tài chính của người dân ảnh hướng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Người dân có thu nhập cao thì lượng tiền dành cho tiết kiệm có thể càng tăng, đặc biệt khi thu nhập bình quân đâu người đã đạt đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm không phải tăng lên theo tương quan tỷ lệ với sự gia tăng của thu nhập mà tăng với một tỷ lệ lớn hơn so với thu nhập do những nhu cầu thiết yếu lúc nảy đã được thỏa mãn hoàn toàn và lượng tiền dư ra sẽ tăng nhanh. Tuy nhiên, lượng tiễn dư ra đó có được gửi vào ngân hàng thương mại hay không cỏn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan lần chủ quan.
~ Môi trường văn hóa - xã hội Hành vi của khách hàng và cá đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chỉ phối khá nhiều bởi các yêu tố văn hóa. Những hàng động trái với truyền thống, văn hóa thường không được chấp nhận. Hành vi tiêu dùng bị chỉ phối bởi các yếu tố văn hóa, do đó nó cũng ảnh hưởng tới nhu cầu về các sản phẩm dich vu ngân hàng. Môi trường văn hóa - xã hội được hình thành từ những tổ chức và những nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị của xã hội như cách nhận thức, trình độ đân trí, trình độ văn hóa, lỗi sống, thói quen sử dụng và cất trữ tiễn tệ và sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động ngan hang.
'Vấn để tâm lý của người dân cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và nhu cầu của người dân về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Ví dụ, nếu người dân có tâm lý không tin tưởng vảo ngân hảng, thì họ không gửi tiền vào ngân hàng mà cất trữ đưới dạng tiền mặt, vàng bạc, đá quý hoặc gửi tại ngân hàng nhưng lại rút ra} at. ~ Môi trường pháp lJ' Đây là nhân tô thuộc môi trường bên ngoài vả có tác động rất lớn đến hoạt động cúa ngân hàng thương mại, trong đó có hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân. Do ảnh hưởng to lớn của hoạt động tải chính vào nền kinh tế mà mỗi ngân hàng thương mại đều chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật.
Luật pháp tạo ra cơ sở pháp lý cho các hoạt động của ngân hàng dưới hình thức các Luật, Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quy chễ,.Đó là những quy định bắt buộc các ngân hàng phải tuân theo, đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân bị rằng buộc bởi quy chế về tiễn gửi tiết kiệm. Các quy định của pháp luật nêu không đầy đủ, rõ ràng và thiếu tính đồng, bộ, nhất quán thì sẽ gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng, Và ngược lại, nễu một hệ thông pháp luật đây đủ và hoàn chỉnh sẽ là một hành lang pháp lý vũng chắc cho các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của mình. ~ Môi trường công nghệ Những tiền bộ của công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân nói riêng.
Các ngân hàng có thế áp dụng những phương 10 tiên, công cụ mới vào hoạt động của mình, từ đó tăng năng suất và hiệu quá lao động, giảm chỉ phí, đồng thời gia tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Ngày nay, công nghệ thông tin đang được sử dụng rộng rai lam mo rong danh mục sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Công nghệ hiện đại đã giúp ngân hàng cung ứng những dịch vụ mới như ngân hàng điện từ, ngân hàng qua mang,.