Chương 1 đã giới thiệu tổng quan v đ tài nghiên cứu như: Lý do chọn đ tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu đ tài và kết cấu của báo cáo nghiên cứu. Chương 2 tiếp theo sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu v các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá". Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả.
Dưới góc độ này thì chúng ta có thể xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh một cách cụ thể bằng các phương pháp định lượng thành các chỉ tiêu hiệu quả cụ thể và từ đó có thể tính toán so sánh được. Ngoài ra, nó còn phản ánh mức độ khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh. Lúc này thì phạm trù hiệu quả hoạt động kinh doanh là môt phạm trù trừu tượng và nó phải được định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực SXKD. "Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, ti n vốn) để đạt được mục tiêu xác định"(GS.Ngô Đình Giao- NXB khoa học kỷ thuật, HN 1997), nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.
Từ định nghĩa v hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng v mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hoạt động SXKD, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất (người lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, vốn…) trong quá trình tiến hành các hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội.
Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của hiệu quả kinh doanh. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải chú trọng các đi u kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu quản của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm chi phí. Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu.
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận. Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp. Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đ ở tầm chiến lược. Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn li n với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhi u góc độ.
Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp: Hiện nay với sự vận động đa dạng và phứt tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sự cạnh tranh gây gắt giữa các doanh nghệp. trong khi đó các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm nhưng nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng. đi u này phản ánh quy luật khan hiếm. Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi daonh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì: sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận những doanh nghiệp nào sản xuất đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp.
chính vì vậy để có thể tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đoài hỏi các doanh nghiệp phải xác định cho mình phương thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lược, các phương án kinh doanh phù hợp và có hiệu quả. Như vậy, hoạt động SXKD có hiệu quả ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 doanh nghiệp, được thể hiện thông qua các vai trò sau: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp: sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo ra hàng hóa, của cải vật chất và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Do đó doanh nghiệp phải đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có sự tích lũy cho quá trình tái sản xuất mở rộng, Nhưng trong đi u kiện các yếu tố của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả. Hiệu quả SXKD càng cao, doanh nghiệp càng có đi u kiện tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tiên tiến hiện đại… sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng là ti n đ để nâng cao phúc lơi cho người lao độngtừ đó kích thích người lao động tăng năng xuất lao động.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong sản xuất kinh doanh: cạnh tranh là yếu tố làm doanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể khiến doanh nghiệp không thể tồn tại được trên thị trường. Thị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh v số lượng mà cạnh tranh cả v chất lượng hàng hóa, giá cả và các yếu tố khác. Do đó, doanh nghiệp phải cung cấp được hàng hóa dịch vụ với chất lượng tốt, giá cả hợp lý.
Mặt khác, hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hóa bán ra, nhưng chất lượng không ngừng được nâng cao…Vì vậy, các tiến bộ khoa học kỷ thuật, các phương thức quản lý hiện đại sẽ được áp dụng thúc đẩy sự tiến bộ trong SXKD. Hiệu quả kinh doanh là điều kiện thực hiện mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận: để có được lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiến hành các hoạt động SXKD để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng một số nguồn lực nhất định. Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhi u lợi nhuận.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên đây là đi u kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 doanh nghiệp. Phân loại hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Căn cứ theo phạm vi tính toán Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đ ra. Hiệu quả xã hội: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định, đó là giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế, cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống cho các tầng lớp nhân dân. Hiệu quả an ninh quốc phòng: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào SXKD với mục tiêu lợi nhuận nhưng phải đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong và ngoài nước.
Hiệu quả đầu tư: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động SXKD nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra. Hiệu quả môi trường: phản ánh việc khai thác và sử dụng các nguồn lực trong kinh doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhưng phải xem xét mức tương quan giữa kết quả đạt được v kinh tế với việc đảm bảo v vệ sinh. Môi trường, đi u kiện làm việc của người lao động và khu vực dân cư. Căn cứ theo nội dung tính toán: Hiệu quả dưới dạng thuận: hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo lường bằng chỉ tiêu tương đối, biểu hiện quan hệ so sánh giữa chi phí đầu vào với kết quả đầu ra.
Chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo được bao nhiêu đơn vị đầu ra. Hiệu quả dưới dạng nghịch: là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh nhưng chỉ tiêu này cho biết để có được một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị chi phí đầu vào. Căn cứ theo phạm vi tính: Hiệu quả toàn phần: tính chung cho toàn bộ kết quả và toàn bộ chi phí LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 của từng yếu tố hoặc tính chung cho tổng nguồn lực. Hiệu quả đầu tư tăng thêm: chỉ tính cho phần đầu tư tăng thêm (mới) và kết quả tăng thêm của thời kỳ tính toán.