CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề cơ bản của hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh. Từ trước đến nay, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tuy nhiên để có một định nghĩa chính xác về nó là điều không đơn giản, do các quan điểm còn chưa thống nhất, các nhà kinh tế có những góc nhìn, hệ quy chiếu khác nhau sẽ đưa ra những ý kiến khác nhau về phạm trù này. Theo Adam Smith (1776) thì “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”.
Còn Paul A Samuelson trong quyển sách Kinh tế học (1947) lại cho rằng: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”. Trong quan điểm này, ông đã hướng tới nhìn nhận hiệu quả kinh doanh tức là việc khả năng tận dụng nguồn lực nội tại của doanh nghiệp (nhân lực, vốn, lợi thế…). Theo PGS, TS. Trương Bá Thanh cũng có quan điểm về vấn đề này được trình bày trong cuốn Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh – Phần II năm 2009 như sau: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình đó khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh”.
Theo ông, hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo cơ bản để đánh giá việc doanh nghiệp có hoàn thành các mục tiêu kinh doanh đề ra. Cùng theo quan điểm trên, Trần Thị Thu Phong (2013) phát biểu: “Biểu hiện cao nhất, tập trung nhất của hiệu quả kinh doanh là khả năng sinh lời, nên việc phân tích hiệu quả kinh doanh phải tập trung phân tích khả năng sinh lời của các nguồn lực sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, khả năng sinh lời chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp có năng lực hoạt động tốt, thể hiện thông qua việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp. Chính vì vậy, để đánh giá được đầy đủ hiệu quả kinh doanh theo đó sẽ bao gồm phân tích 2 nội dung là phân tích hiệu quả hoạt động và phân tích khả năng sinh lời”.
4 Tổng kết lại, ta có thể thấy hiệu quả hoạt động là một vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều yếu tố trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nếu xét theo phương diện mục đích thì hiệu quả hoạt động là chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra (có thể hiểu là lợi nhuận doanh nghiệp). Còn theo phương diện từng yếu tố, hiệu quả hoạt động là cơ sở đánh giá doanh nghiệp có tận dụng hết các điều kiện của mình hay không. Như vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh có bản chất là phản ảnh chất lượng của các hoạt động kinh doanh, trình độ sử dụng các nguồn lực (vốn, lực lượng lao động, tài nguyên, cơ sở vật chất…).
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Theo quan điểm được nêu ở trên, hiệu quả là phạm trù phản ảnh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra. Nó được đánh giá thông qua mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí để đạt được điều đó. Theo cách này, ta có công thức xác định hiệu quả kinh doanh tuyệt đối là: 𝐻 =𝐾−𝐶 Trong đó: H - Hiệu quả kinh doanh theo số tuyệt đối.
K - Kết quả của mục tiêu đề ra. C - Chi phí sử dụng nguồn lực để tạo ra kết quả đó. Theo công thức trên ta có thể hiểu, H đa số được xét tới là lợi nhuận trong kỳ. Như vậy, nếu kết quả của mục tiêu đề ra K càng lớn và chi phí sử dụng nguồn lực C càng bé thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.
Khi hiệu quả kinh doanh H được xét đến là các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất như tỷ suất lợi nhuận tỉnh theo doanh thu, tỷ suất lợi nhuận theo vốn.Công thức tương đối của hiệu quả kinh doanh được xác định như sau: 𝐾 𝐻= 𝐶 Ngoài ra, có 4 nhóm tỷ số chính được sử dụng để ước lượng các khía cạnh khác nhau trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bao bồm: 1. Phản ánh năng lực hoạt động: Ước lượng tổng thu nhập và doanh số phát sinh từ tài sản của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán: Ước lượng sự phù hợp giữa nguồn tiền mặt của doanh nghiệp và các khoản nợ phải trả. Cơ cầu tài chính: giải thích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, kết hợp giữa nguồn tài chính và khả năng thỏa mãn các khoản nợ dài hạn và các nghĩa vụ đầu tư.
Khả năng sinh lời: ước lượng mức lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng với tổng doanh thu và vốn bỏ ra. Các nhóm nêu trên tuy được phân chia tách biệt tuy nhiên chúng vẫn có những mối quan hệ tương quan tác động lên nhau chứ không phải là các phân tích độc lập (Lê Thị Xuân, 2018). Như vậy, để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, ta thường quan tâm đến các chỉ tiêu phản ảnh khả năng sinh lời, năng lực hoạt động và khả năng thanh toán được các doanh nghiệp quan tâm sử dụng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua phân tích các hệ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp, bao gồm: Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh: Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho… Công thức: 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝑇ỷ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 𝑛ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 = 𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Mỗi nhân tố trong tài sản ngắn hạn đều có khả năng chuyển hóa thành tiền là khác nhau, khả năng chuyển hóa thành tiền của hàng tồn kho được coi là kém nhất, tiền mặt là tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Nên để đánh giá chính xác hơn, có thể sử dụng tỷ số khả năng thanh toán nhanh để thay thế. Tỷ số này đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng việc chuyển đổi các tài sản ngắn hạn (trừ hàng tồn kho) thành tiền, công thức: 6 𝑇𝑖ề𝑛 + Đ𝑇𝑇𝐶 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 + 𝐾𝑃𝑇 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝑇ỷ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 𝑛ℎ𝑎𝑛ℎ = 𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Tuy nhiên, tỷ số này vẫn chưa tối ưu được đánh giá khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp. Nhiều trường hợp, khả năng tỷ số khả năng thanh toán và tỷ số khả năng thanh toán nhanh cao nhưng vẫn không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, do các khoản phải thu chưa đền kì thu tiền, hay hàng tồn kho khó chuyển đổi thành tiền.
Do đó, chỉ tiêu tỷ số khả năng thanh toán ngay sẽ cho ta biết năng lực tức thời mà doanh nghiệp có thể thanh toán là bao nhiêu, công thức. 𝑇𝑖ề𝑛 + Đ𝑇𝑇𝐶 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝑇ỷ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 𝑛𝑔𝑎𝑦 = 𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Các tỷ số trên đều có mục đích chung là phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khi các tỷ số trên cao, có thể thấy doanh nghiệp đang có tiềm lực ngắn hạn dồi dào có thể đáp ứng được các nhu cầu thanh toán cần thiết. Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao có thể do doanh nghiệp có quỹ tiền mặt quá dư thừa hay các nhân tố khác đang không hợp lý, không mang lại hiệu quả cao. Chính vì thế, các nhà kinh tế học đã đưa ra những hệ số hợp lý cho từng khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là 2, tỷ số khả năng thanh toán nhanh 1, tỷ số khả năng thanh toán ngay 0.
Tuy nhiên, tùy vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh mà các hệ số này được biến đổi cho phù hợp. Tiếp theo, nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh gồm ba chỉ tiêu được các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS). Tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA). Tỉ số ROA phản ánh cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệp mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ROA càng cao thì khả năng sử dụng tài sản càng có hiệu quả (Lê Thị Xuân, 2018).
Chỉ số ROA được xác định theo công thức sau: 𝐿𝑁𝑆𝑇 𝑅𝑂𝐴 = 𝑥 100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Tỷ số này ảnh hưởng bởi hai yếu tố là lợi nhận sau thuế của doanh nghiệp và 7 tài sản doanh nghiệp. Do đó, tùy vào các ngành khác nhau thì sẽ mang theo những đặc điểm khác nhau về cơ cấu tài sản, dẫn tới ROA cũng thay đổi. Với các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp nặng như thép, gạch lát… thường có tài sản cố định lớn, dẫn tới chỉ số ROA tương đối thấp. Ngược lại, với những công ty trong ngành công nghệ thông tin, hàng tiêu dùng.
không yêu cầu quá lớn tài sản cố định để vận hành, thường chỉ số ROA cao. Theo tiêu chuẩn quốc tế doanh nghiệp có ROA >7.5% được coi là doanh nghiệp tốt. Tuy nhiên, các nhà phân tích thường không xem xét một năm riêng lẻ mà thường ít nhất 3 năm. Vì vậy để đánh giá doanh nghiệp đó có phải là doanh nghiệp tốt hay không thì ROA > 7,5% + ROA ngày càng tăng + Duy trì ít nhất 3 năm.
Những doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện trên thường là doanh nghiệp tốt và được đánh giá cao. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tương tự với chỉ tiêu ROA, chỉ tiêu ROE nói lên với một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ số này thể hiện được năng lực sử dụng nguồn vốn để tạo ra các khoản lợi nhuận (Lê Thị Xuân, 2018).
Công thức tính ROE được xác định: 𝐿𝑁𝑆𝑇 𝑅𝑂𝐸 = 𝑥 100 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 ROE càng cao và luôn duy trì được ở mức ổn định thì chúng ta có thể biết được việc sử dụng vốn của doanh nghiệp là vô cùng hiệu quả. Mỗi lĩnh vực, ngành nghề có chỉ sổ ROE cao thấp khác nhau.