CHƯƠNG 1 Trong phần giới thiệu tổng quan, học viên đã trình bày tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả ho ạt đ ộng của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó, học viên đã xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cùng với phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, học viên cũng cho thấy được ý nghĩa khoa học và thực tiễn c ủa đề tài nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 2.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất phát từ khái niệm hiệu quả kinh doanh, phản ánh quan điểm của quản lý chiến lược và là một cấu phần của hiệu quả tổ chức (Venkatran & Ramanujan, 1986). Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh. Paul Samuelson (1991) cho rằng: ―Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một lượng hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó‖. Xuất phát điểm của hướng tiếp cận này đề cập tới khía cạnh phân bổ có hiệu quả các ngu ồn l ực kinh t ế v ới mục tiêu đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn kh ả năng sản xuất, từ đó làm cho nền kinh tế có hiệu quả. Rõ ràng là, với xuất phát điểm như trên, mức hiệu quả này là hiệu quả cao nhất mà m ỗi n ền kinh tế có thể đạt được vì năng lực sản xuất của mọi doanh nghiệp đều là có giới hạn. Một số nhà quản trị học lại quan niệm hiệu quả kinh doanh đ ược xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Nhà kinh tế học người Đức, Manfred Kuhn (1991) cho rằng: ―Tính hiệu quả cao được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đ ơn v ị giá trị chia cho chi phí kinh doanh‖. Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng ―Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình đ ộ s ử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh theo m ục tiêu nhất định‖ (Nguyễn Đình Giao, 1997). Theo định nghĩa này, bản 9 chất của phạm trù hiệu quả và những nhân tố hợp thành vận động theo những hướng khác nhau, nhất là trong những hình thái xã h ội có quan h ệ sản xuất khác nhau.
Định nghĩa này cũng đã phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kế quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó. Trong xã hội chủ nghĩa, phạm trù hiệu quả vẫn tồn tại vì sản phẩm xã hội sản xuất ra vẫn là hàng hóa. Do các tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, toàn dân và tập thể, hơn nữa mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa đáp ứng nhu c ầu càng tăng của mọi thành viên trong xã hội nên bản chất của phạm trù hiệu quả cũng khác với quan điểm của trường phái tư bản chủ nghĩa. Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiểu như thế nào về hiệu qu ả kinh doanh.
Nhà kinh tế học Smith (1976) cho rằng: ―Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa‖. Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một k ết qu ả hoạt động có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan đi ểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả. Quan điểm của Coelli et al.
(2005) lại cho rằng: ―Hiệu quả kinh doanh có thể xác định theo nhiều cách, thước đo để đo hiệu quả là một tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào‖. Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đ ời s ống v ật chất và tinh thần cho người dân. Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó. Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Xuất phát từ các hướng tiếp cận khác nhau về khái niệm hiệu quả hoạt động nên cũng có nhiều cách đo lường khác nhau.
Nhìn chung, có hai 10 hướng tiếp cận phổ biến trong đo lường hiệu quả hoạt đ ộng c ủa doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, hướng tiếp cận mục tiêu cho rằng tùy thuộc vào mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn mà hiệu qu ả ho ạt đ ộng được hiểu là hiệu quả tài chính hay hiệu quả phi tài chính. Đ ối v ới các doanh nghiệp có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận thì hiệu quả được đo lường bằng các chỉ số tài chính, hay hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng là hiệu quả tài chính. Đối với các doanh nghiệp không đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết thì hiệu quả hoạt động của doanh nghi ệp đ ược đo lường bằng các yếu tố phi tài chính như hiệu quả quản lý, hiệu quả xã hội. Thứ hai, hướng tiếp cận theo hệ thống lại cho rằng, hiệu quả phải là hiệu quả của toàn hệ thống, được đo bằng hiệu quả của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp gộp lại như: bộ phận R&D, marketing, bán hàng, chăm sóc khách hàng, quản lý…Theo cách tiếp cận này, có khá nhiều các mô hình nhằm đo lường như: bảng điểm cân bằng của Kaplan & Norton, lăng kính hiệu suất của Kennerly & Neely, ma trận đo lường hiệu quả của Keegan, kim tự tháp Smart của Lynch & Cross.
Tóm lại, khái niệm về hiệu quả hoạt động được hệ thống theo hình sau: 11 Hình 0-1: Khái quát về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nguồn: (Linh. T, 2012) Trong luận văn này, nhằm mục tiêu xác định những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, học viên chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động theo hướng tiếp cận mục tiêu, hi ệu qu ả ho ạt động được hiểu là hiệu quả tài chính. Vì với các doanh nghi ệp niêm y ết, mục tiêu về lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động của doanh nghiệp. Mục tiêu về lợi nhuận cũng là mục tiêu trung gian giúp chủ sở hữu đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Ngoài ra, do ban giám đốc của doanh nghiệp cũng theo đuổi mục tiêu lợi nhuận nh ằm đ ạt đ ược các khoản thưởng thù lao và qua đó tối đa hóa l ợi ích c ủa mình theo lý thuyết đại diện. Do đó, cách tiếp cận hiệu quả hoạt động từ khía cạnh hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong luận văn này là hợp lí. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp theo các chỉ số kế toán bao gồm ROE, ROA và ROS. 12 Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn là tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Công thức tính như sau: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bỏ ra thì t ạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận hay nói cách khác khả năng tạo ra lợi nhuận của một đồng vốn chủ sở hữu. Để tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, các nhà quản trị có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao doanh thu, đồng thời giảm chi phí làm gia tăng lợi nhuận thuần. Hoặc doanh nghi ệp có thể sử dụng tài sản hiệu quả hơn bằng cách nâng cao vòng quay tài sản hay nói cách khác doanh nghiệp tạo ra nhiều doanh thu hơn t ừ nh ững tài sản sẵn có của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể nâng cao tỷ số này lên bằng cách nâng cao đòn bẩy tài chính t ức là vay n ợ đ ể tăng vốn đầu tư.
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS) Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu là một chỉ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lời của doanh nghiệp. Đây là chỉ số chỉ ra m ối quan h ệ giữa lợi nhuận ròng và doanh thu của doanh nghiệp, công th ức tính nh ư sau: Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận chiếm bao nhiêu ph ần trăm trong doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghi ệp. Hay nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này mang giá trị dương cho thấy hoạt động kinh doanh có 13 lãi, tỷ số càng lớn càng thể hiện doanh nghiệp có lãi càng lớn.
Ngược lại, tỷ số này mang giá trị âm đồng nghĩa với tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang trong ở trong trạng thái thua lỗ. Bởi vì, tỷ số này bị ảnh hưởng bởi giá bán (yếu tố hình thành nên doanh thu) và chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Do đó, khi giá bán cao, doanh thu tăng ho ặc giảm chi phí sản xuất hoặc khi cả hai tình huống xảy ra thì tỷ s ố này sẽ tăng. Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) hay còn gọi là chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản.
Tỷ số này là tỷ số tài chính dùng đ ể đo l ường kh ả năng sinh lời trên một đồng tài sản của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động sinh lãi. Tỷ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số này nhỏ hơn 0, thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đang thua l ỗ.
M ức lãi hay l ỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản c ủa doanh nghiệp. Do đó, tỷ số này cho biết hiệu quả quản lý và s ử d ụng tài s ản đ ể tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố.