CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1.1 Các nghiên cứu công bố nước ngoài. Tác giả Ozigbo và Orife (2011) với nghiên cứu: “Kiểm soát nội bộ và phòng chống gian lận trong các tổ chức kinh doanh bảo hiểm ở Nigeria: Một cuộc khảo sát về một số công ty được lựa chọn trong đô thị Warri” cũng đã thực hiện một nghiên cứu về KSNB và phòng chống gian lận trong kinh doanh bảo hiểm. Nghiên cứu này có mục đích chính là kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ và phòng chống gian lận trong kinh doanh bảo hiểm. Một cuộc khảo sát đã được thực hiện trong một số công ty được lựa chọn trong đô thị Warri.
Bảng câu hỏi nghiên cứu được thiết kế và khảo sát 80 nhân viên cao cấp trong các bộ phận kế toán của các công ty. Phương pháp dữ liệu phân tích là thống kê mô tả, thông qua các bảng và tỷ lệ phần trăm đơn giản. Phát hiện của nghiên cứu là kiểm soát nội bộ là một công cụ bảo vệ an toàn cần thiết, đảm bảo chủ sở hữu của doanh nghiệp rằng tiền của họ đang đượcsử dụng hiệu quả. Tác giả Olof Arwinge (2014) với đề tài: “Kiểm soát nội bộ trong ngành tài chính – Nghiên cứu công ty bảo hiểm” đã xây dựng một khung nghiên cứu để nghiên cứu HTKSNB của Công ty bảo hiểm ở Thụy Điển là Folksam.
Nghiên cứu của tác giả là kiểm tra làm thế nào và tại sao môi trường và các yếu tố đặc thù của Công ty lại ảnh hưởng đến thiết kế, sử dụng và kết quả đầu ra của HTKSNB. Tức là tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố trong doanh nghiệp tác động như thế nào đến việc thiết kế, sử dụng HTKSNB. 6 Trường hợp Tính không chắc Quy định Quy mô Công nghệ chắn (rủi ro) Chiến lược Thiết kế và sử dụng Thiết kế và sử dụng HTKSNB Kết quả đầu ra Kết quả của HTKSNB Hình 1.1: Khung nghiên cứu (Olof Arwinge (2014)) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi chiến lược công ty không thành công, công ty gặp phải khủng hoảng lớn trong năm 1990. Công ty đã thay đổi các nhà quản lý đã góp phần thay đổi thái độ trong quản trị rủi ro.
Việc xây dựng HTKSNB giảm rủi ro nội bộ, đề phòng rủi ro bên ngoài càng được nhìn nhận đúng đắn vai trò của nó từ những nhà quản trị mới. Qua đó cho thấy việc thay đổi nhận thức của nhà quản trị về quản trị rủi ro là hết sức cần thiết để hướng công ty đi theo đúng chiến lược đề ra. Từ đó, tác giả kết luận rằng có hai nhân tố ảnh hưởng tới việc thiết kế và sử dụng HTKSNB trong doanh nghiệp đó là đánh giá rủi ro và bộ máy lãnh đạo. Việc thiết kế, sử dụng HTKSNB không được rập khuôn như lý thuyết mà phải tích hợp với đánh giá rủi ro, chiến lược công ty, bối cảnh bên ngoài… Stephen Amponsah, Kofi Osei Adu và Anthony Amissah (2015) với đề tài: “Đánh giá HTKSNB một số doanh nghiệp bảo hiểm ở Ghana” đã sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) để đánh giá HTKSNB một số Công ty bảo hiểm ở Ghana.
Dữ liệu được thu thập từ các kiểm toán viên nội bộ trong ngành bảo 7 hiểm ở Ghana, có 91 câu hỏi được khảo sát thành công. Tác giả đã thống kê sự khác biệt của HTKSNB giữa các công ty bảo hiểm thông qua các biến phụ thuộc: hoạt động kiểm soát, giám sát, thông tin và truyền thông, môi trường kiểm soát và đánh giá rủi ro. Dựa trên kết quả của nghiên cứu, tác giả đã kết luận rằng các công ty bảo hiểm phi nhân thọ có HTKSNB hiệu quả hơn các công ty bảo hiểm nhân thọ và các công ty khác (môi giới bảo hiểm, tái bảo hiểm). Nghiên cứu cũng tiết lộ rằng các công ty bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ cũng như các công ty môi giới thực hiện các biện pháp giám sát đầy đủ hơn các công ty môi giới, tái bảo hiểm.
Do đó, Ủy ban bảo hiểm quốc gia cần quan tâm nhiều đến môi giới tái bảo hiểm, tái bảo hiểm trong việc đảm bảo thực hiện các biện pháp kiểm soát nội bộ. Nghiên cứu của các tác giả Siyanbola Trimisiu Tunji, Oyebamiji Taofeek Adewale, Ibrahim John (2016) với đề tài: “Vai trò của HTKSNB hiệu quả với kinh doanh bảo hiểm” đã chọn ngẫu nhiên năm công ty bảo hiểm trong sáu mươi công ty bảo hiểm đang hoạt động ở bang Adamawa tại nước Nigeria để nghiên cứu xem tác động của HTKSNB đến hiệu quả hoạt động của các Công ty bảo hiểm. Tác giả đã thiết kế bảng khảo sát với thang đo liker 5 cấp độ từ không đồng ý tới hoàn toàn đồng ý. Khảo sát 50 nhân viên cũng như 50 khách hàng của mỗi công ty trong năm công ty được chọn.
Nghiên cứu đưa ra một số kết luận về HTKSNB như sau: HTKSNB có tác động trực tiếp tới hiệu suất của Công ty bảo hiểm, sự tồn tại của HTKSNB đã làm giảm sự xuất hiện của các hành vi gian lận trong Công ty bảo hiểm ở bang Adamawa, nhân viên KSNB không được chi trả thù lao đúng với năng lực, làm giảm hiệu quả trong công việc, bộ máy quản lý không cam kết đảm bảo giám sát hiệu quả HTKSNB trong ngành. Từ kết quả của nghiên cứu thì tác giả đã đưa ra một số kiến nghị như sau: - Một hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập tốt là bắt buộc đối với tất cả các công ty trong ngành bảo hiểm. - Tất cả các luật và quy định phải được thực thi nghiêm ngặt và có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của vi phạm. 8 - Nâng cao năng lực trình độ của nhân viên đơn vị kiểm soát nội bộ, luân chuyển công việc giữa các nhân viên.
- Nâng cao nhận thức của nhà quản trị về vai trò của HTKSNB, khuyến khích họ trao đổi kinh nghiệm với những nhà lãnh đạo khác trong ngành. Đồng thời trao quyền cho các nhà quản lý, nhân viên của đơn vị kiểm soát nội bộ thực thi trách nhiệm của mình. Nghiên cứu của tác giả Ritah Ndunge Kilemi (2018) với đề tài: “Các nhân tố tác động đến gian lận bồi thường ở các công ty bảo hiểm tại Nairobi, Kenya” đã nghiên cứu ba nhân tố tác động tới gian lận bồi thường là động lực nhân viên, dịch vụ bồi thường và kiểm soát nội bộ. Tác giả đã khảo sát bằng bảng câu hỏi đối với 136 mẫu là các nhân viên làm việc tại 35 công ty bảo hiểm tại Nairobi, Kenya.
Sau đó dùng thống kê mô tả để xem xét mức độ ảnh hưởng của ba nhân tố đó tới gian lận bồi thường. Kết quả cho thấy, kiểm soát nội bộ trong các công ty bảo hiểm ở Nairobi có nhiều sơ hở để nhân viên dễ dàng gian lận trong quá trình bồi thường. Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ như phát triển một số cơ sở dữ liệu để hỗ trợ phát hiện thông tin bất thường ở giai đoạn yêu cầu bồi thường như xác minh thông tin được cung cấp bởi người yêu cầu bồi thường; nâng cao năng lực của nhân viên phòng IT; cải tiến hệ thống thông tin để hỗ trợ phát hiện gian lận.2 Các nghiên cứu công bố trong nước. Nghiên cứu của tác giả Vũ Phan Bảo Uyên (2011) về: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam”.
Tác giả nghiên cứu phản ánh và đánh giá thực trạng hoạt động KSNB của Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI) nhằm kiểm soát rủi ro, nhận biết những hạn chế và nghiên cứu những hạn chế của HTKSNB tại PVI. Tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu tại Tổng Công ty CP bảo hiểm dầu khí Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đã tìm ra được những hạn chế trong HTKSNB tại PVI như: chưa có các quy trình cụ thể mô tả HTKSNB, các công ty thành viên hầu như không tổ chức đào tạo nhân 9 viên về HTKSNB, thiếu sự giám sát của chặt chẽ lẫn nhau của các nhân viên cùng phòng ban, tạo điều kiện gian lận trong chính nhân viên của Công ty…Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những yếu kém trên như chính sách nhân sự và đào tạo nhân viên của PVI vẫn còn nhiều khiếm khuyết; Ban giám sát vẫn còn lơ là trong nhiệm vụ, thiếu sự sát sao; ban lãnh đạo cao cấp tại Tổng Công ty CP bảo hiểm dầu khí và các công ty thành viên vẫn còn chưa được đào tạo chuyên sâu về KSNB. Từ đó, tác giả đưa ra một số các kiến nghị nhằm mục đích hoàn thiện HTKSNB như: sử dụng phần mềm PAIS để thực hiện các hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm cũng như kế toán, bồi thường…, đào tạo nhân viên về KSNB, tuyển dụng thêm IT phụ trách mỗi đơn vị thành viên để đảm bảo hệ thống phần mềm PAIS hoạt động liên tục, thành lập phòng kiểm tra hợp đồng.
Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế của đề tài: dữ liệu khảo sát nhỏ, những đánh giá về HTKSNB của tác giả vẫn còn nhiều ý kiến chủ quan, chưa lượng hóa để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố tới tính hữu hiệu của HTKSNB tại đơn vị PVI. Tác giả Dương Thị Nhi (2013) với bài báo: “Kiểm soát nội bộ bảo hiểm, những vấn đề gốc rễ” được đăng trong báo Đầu tư chứng khoán số ra ngày 07/02/2013. Theo kết quả khảo sát của Ernt & Young Việt Nam thì hoạt động kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp bảo hiểm rất yếu kém (theo Đầu tư chứng khoán số ra ngày 01/02/2013). Tác giả đã khảo sát thực tế về kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam.
Từ đó, tác giả nêu ra các nhược điểm và đề xuất giải pháp để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng. Năm 2007, nhà nước ban hành nghị định 45/2007/NĐ-CP để quy định chi tiết về kiểm tra, KSNB tại các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2012 ban hành thông tư 124/2012/TT-BTC “hướng dẫn chi tiết về hoạt động kiểm tra, KSNB trong DNBH”. Theo đó thì doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng và ban hành các quy trình nghiệp vụ và tổ chức kiểm tra, KSNB.
Các quy định đưa ra nhìn chung là rất chi tiết, chụ thể nhưng khi thực hiện thực tế lại chưa được đáp ứng. Các DNBH hiện nay đang triển khai HTKSNB chưa đồng bộ và quy chuẩn. Việc cập nhật rủi ro và hoàn thiện HTKSNB chưa được thực hiện thường xuyên.