Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 5 Chương 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái quát về kiểm soát nội bộ 1. Lịch sử hình thành và phát triển Lịch sử hình thành và phát triển của KSNB chia làm hai giai đoạn.
Giai đoạn tiền COSO (Từ năm 1992 trở về trƣớc ) - Đầu thế kỷ 20, sự quan tâm của Kiểm toán độc lập về KSNB mà hình thức ban đầu là kiểm soát tiền. - Năm 1905, xuất hiện từ KSNB trong “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” của Robert Montgomery. - Năm 1929, Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin): KSNB là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động. - Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA – American Institute of Certified Public Accountants): KSNB là các biện pháp và cách thức được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách.
- Năm 1949, công trình nghiên cứu của AICPA định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý. Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB. - Năm 1958: Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP- Statement Auditing Procedure) về: “Phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập”, trong đó lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán. - Đến năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP33 (1962), đã làm rõ hơn về vấn đề này.
7 - Đến 1972, CPA tiếp tục ban hành SAP54 (1972) “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ”, trong đó đưa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán, đó là đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê. Sự ra đời của Báo cáo COSO (năm 1992) - Nguyên nhân dẫn đến việc thành lập Ủy ban COSO là: Gian lận tại các công ty và Sự quan tâm của xã hội đến KSNB. Do đó, cần một khuôn khổ chung về KSNB. - Sau Watergate (1973), vào năm 1977, luật về chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corrupt practices act) ra đời.
- Sau đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC – Securities and Exchange Commission) đưa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình (1979). - Ủy ban COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên BCTC, thường gọi là Ủy ban Treadway, được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp, mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO. Năm tổ chức đó là: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA – American Accounting Association), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI – Financial Executives Institute), Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA – Institute of Management Accountants), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA – Institute of Internal Auditors). Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo năm 1992.
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. COSO đã định nghĩa đầy đủ về KSNB và dùng từ KSNB thay vì KSNB về kế toán. Báo cáo COSO đưa ra năm bộ phận của KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Cấu trúc của Báo cáo COSO (1992): gồm bốn phần đó là: 8 Phần 1: Tóm tắt dành cho ngƣời điều hành: Cung cấp cái nhìn tổng quát về KSNB ở mức độ cao dành riêng cho các nhà quản lý cao cấp và Giám đốc điều hành, và các cơ quan quản lý Nhà nước.
Phần 2: Khuôn mẫu của KSNB: Là nội dung cơ bản của báo cáo COSO, trong đó định nghĩa về KSNB và các tiêu chuẩn để giúp Ban Giám đốc, nhà quản lý và các đối tượng khác nghiên cứu để thiết kế, vận hành hay để đánh giá hệ thống KSNB. Phần 3: Báo cáo cho đối tƣợng bên ngoài: Là tài liệu bổ sung nhằm hướng dẫn cho các tổ chức cần báo cáo về KSNB cho bên ngoài. Phần 4: Công cụ đánh giá hệ thống KSNB: Đưa ra các hướng dẫn, gợi ý thiết thực cho việc đánh giá hệ thống KSNB. Giai đoạn hậu COSO ( từ năm 1992 đến nay): Sau khi báo cáo COSO 1992 được phát hành thì tiếp đó hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời.
COSO phát triển về quản trị, về DN nhỏ (2006), về Công nghệ Thông tin, Kiểm toán độc lập, chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và giám sát (2008). Các khái niệm về kiểm soát nội bộ 1. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ theo COSO 1992 Quá trình nhận thức và nghiên cứu về KSNB đã dẫn đến sự hình thành các định nghĩa khác nhau. Hiện nay, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO năm 1992.
Báo cáo COSO được công bố dưới tiêu đề Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework) đã định nghĩa về KSNB: “Kiểm soát nội bộ: Là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động - Sự tin cậy của báo cáo tài chính (BCTC) - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ theo COSO 2004 Xây dựng hệ thống KSNB hữu hiệu giúp các DN kiểm soát các mục tiêu đề ra, kiểm soát được những rủi ro và phục vụ tốt hơn trong công tác quản lý DN. Năm 2004, COSO công bố báo cáo tổng thể với tiêu đề: Quản trị rủi ro doanh nghiệp – khuôn khổ hợp nhất (Enterprise Risk Management – Intergrated Frameword). Báo cáo năm 2004 được phát triển dựa trên cơ sở Báo cáo COSO 1992 và tích hợp với quản trị rủi ro tại các đơn vị.
Mặt khác báo cáo COSO năm 2004 cũng đã xác định được những tiêu chuẩn làm cơ sở để đánh giá rủi ro cũng như đề xuất xây dựng chu trình quản lý rủi ro hiệu quả trong công tác quản lý. Định nghĩa Quản trị rủi ro DN: Quản trị rủi ro DN là một quá trình chịu ảnh hưởng của Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban Giám đốc và các nhân viên khác được áp dụng trong việc xác định chiến lược và bao trùm lên mọi hoạt động của DN, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến đơn vị và quản trị rủi ro trong mức độ cho phép nhằm cung cấp một sự bảo đảm hợp lý đạt được các mục tiêu của DN. Triết lý của Quản trị rủi ro DN: - Bất kỳ đơn vị nào, ngay cả tổ chức phi lợi nhuận đều tồn tại để mang lại giá trị cho các nhà Đầu tư. - Giá trị được tạo ra, duy trì hay bị xóa mòn qua các quyết định của nhà quản lý trong tất cả các hoạt động, từ việc xác lập chiến lược cho đến việc điều hành các hoạt động hằng ngày của đơn vị.
- Quản trị rủi ro DN giúp cho việc tạo ra giá trị bằng cách hỗ trợ nhà quản lý: + Nhận dạng các sự kiện tiềm tàng trong tương lai. + Ứng phó sao cho giảm tổn thất và tăng cường kết quả. Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 1992 Theo Báo cáo COSO 1992, hệ thống KSNB gồm 5 bộ phận có quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Môi trường kiểm soát 10 Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một DN, đặt ra nền tảng ý thức của DN và tác động đến ý thức kiểm soát của cán bộ nhân viên trong DN.
Môi trường kiểm soát là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống KSNB của DN nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp thông qua năng lực nhân viên, tính chính trực và các giá trị đạo đức, phân công quyền hạn và trách nhiệm, triết lý kinh doanh và phong cách điều hành,. Tính chính trực và các giá trị đạo đức Tính chính trực và các giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trường kiểm soát, tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của KSNB. + Các chuẩn mực ứng xử về đạo đức cần cao hơn việc tuân thủ pháp luật. + Nhà quản lý có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và tạo lập nền tảng, nề nếp văn hóa tổ chức để ngăn cản các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp.
+ Khi xây dựng các giá trị đạo đức, nhà quản lý cần dung hòa lợi ích của các bên đồng thời phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những hành vi thiếu trung thực thì mới đưa đến sự phát triển lâu dài cho tổ chức. + Bên cạnh việc xây dựng, nhà quản lý cần phải truyền đạt hướng dẫn để nhân viên có hiểu biết đầy đủ, ý thức được cái gì đúng và cái gì sai. Chính vì vậy, các nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định, chính sách, điều lệ quản lý,… đến mọi thành viên bằng các thể thức thích hợp.