CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE CÔNG TÁC GIÁM SÁT CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. Tình hình quan lý chất lượng xây dựngở các nước và Việt Nam: Sự nghiệp đối mới đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong lĩnh we quản lý đầu tư và xây dựng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, quy mô hoạt động xây. dung trong những năm qua ngày cảng mở rộng, thị trường xây dựng ngày cảng sôi động, tính xã hội của quá trình xây dựng ngày cảng cao, vị trí của ngành xây dựng trong sự phát triển kinh tế xã hội ngày cảng quan trọng.
Chi trong một thời gian ngắn, ng: h xây dựng nước ta cũng đạt được sự ting tốc khá hoàn hảo có khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ, kỹ thuật xây dựng hiện đại của thể giới, đồng. thời tạo sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về quản lý trong 46 cỗ quản lý chất lượng công trình xây dựng. Ở hiw hết các nước, vai trò kiếm soát này chủ yêu. là cơ quan quản lý nha nước, tuy nhiên cũng có sự tham gia của lực lượng ngoài nhà nước, với mức độ khác nhau, thể hiện mức xã hội hóa trong quản lý chất lượng xây đựng.
Khi đã tư xây dựng công trình, việc quản lý chất lượng là trách nhiệm của các bên tham gia xây dựng, Nhưng do công trình xây dựng là sản phẩm đặc thù, ảnh hưởng nhiễu tối công đồng, đôi hồi tinh an toàn cao (cho cả con người và môi trường) nên chit lượng xây dựng phải được kiểm soát bởi một bên khác, ngoài các bên trực tiếp xây dựng. Trong xu thé hội nhập quốc tế hiện nay, tìm hiểu thực. trạng xã hội hỏa quản lý chit lượng công trình ở những nơi khác, nhất là các nước phát triển cũng giúp ích nhiều trong quá trình thực hiện công tác quản lý chất lượng công trình ở nước ta 1. Tình hình quân lý chất lượng xây dựng 6 các nước: Ở các nước khác, lực lượng ngoải nhà nước tham gia rất mạnh mé trong kiểm soát chất lượng xây dựng, don cử như ở Singapore, Australia và My: 6 * Quan lý chất lượng xây dựng ở Singapore: Đổi với quán lý chất lượng công trình, ngoài cơ quan của nhà nước là Co quan Quản lý Xây đựng & Nhà ở (Building and Construction Authority ~ BCA), tử năm 1989, Singapore áp dụng hệ thing kiểm tra độc lập do các cá nhân hay tổ chức không thuộc BCA đảm nhiệm, gọi làKiểm tra viên được ủy quyền (Accredited Checker ~ AC).
AC có thé là một tổ chức hay cá nhân đạt các điều kiện về năng lực, kinh nghiệm chuyên môn (vi dụ đối với cá nhân phải có trên 10 năm kinh nghiệm hoạt động xây dựng tại Si igapore, đã đăng ký hành nghề theo Luật Kỳ sử Chuyên nghiệp (Professional Engineers Act); đối với tổ chức phải có ít nha 02 kỹ sư có đăng kỹ, có chứng chi ISO 9001.) có mua bảo hiểm trách. nhiệm nghề ngh p theo quy định đối với cá nhân và đối với tổ chức. Các Ki tra viên này được BCA cấp giấy chứng nhận để thay cơ quan QLNN thực hiện kiếm, tra thiết kế kết cầu (rước khi cẤp phép xây dựng) và các kiém tra trong quả trình thi công. Luật của Singapore quy định chủ công trình phải thuê một Kiểm tra viên.
từ giai đoạn thiết kế khi nộp hồ sơ để được cắp phép xây dựng, phải có bio cáo cđánh giá của Kiểm tra viên đối với chất lượng thiết kế. Neuyén tắc quản lý chất lượng xây đựng của chỉnh quyén Singapore là chủ đầu tư phải chứng minh và đạt sự chấp thuận của chính quyển đối với sự tuân thủ pháp I t trong qúa trình xây dựng thông qua hình thức: chấp thuận kết cấu khi cấp phép xây dựng, chấp thuận cho thi công tiếp tai các điểm chuyển giai đoạn quan trọng của công trình, chấp thuận công trình hoàn thành đưa vào sử dụng. Theo số liệu mới nhất (tháng 2 năm 2013), hiện ở Singapore e6 25 cá nhân và 45 16 chức thực hiện vai trở Kiểm tra viên (Accredited Checker ~ AC), Các Kiểm tra viên hoạt động với tr cách cá nhân chỉ được kiểm tra công tình có giá trị đưới 15 triệu SGD, công trình có giá trị xây lắp lớn hơn phải do các AC lả tỏ chức thực hiện kiểm ta. Hệ thống AC đã phit huy vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan QLNN kiểm soát chất lượng từ khâu thiết kế đến thi công công trình.[1] -# Quản lý chất lượng xây dựng ở Australia: Việc quan lý xây dụng tại Australia do các bang tự đảm nhiệm, không có sự can thiệp của chỉnh quyền trung ương.
Tại ác bang, công tác quản lý xây dung cũng giao cho chính quyền địa phương (Hội đồng địa phương cấp khu vực hoặc. thành phố - Local council, hiện Australia có khoảng 700 hội đồng địa phương). Lực lượng quản lý xây dựng tại các địa phương gém Giám sát viên của nhà nước (gọi là Municipal Building Surveyor) do các hội đồng địa phương tuyển dung và Giám sắt viên tư nhân (Private Building Surveyors). Cả hai loi Giám sát viên này đều thục biện việc quản lý xây dựng công trình qua các hình thức: ban hành giấy phép xây dựng (áp dụng từ năm 1993 đối với Giám sắt viên tư nhân), kiểm tra quá trình thi công, ban hành giấy phép sử dụng (khi công trình hoàn thành) Để trở thành Giám sắt viên xây dựng (cả tư nhân và nhà nước) đều phải đạt các yêu cầu theo quy định (có năng lực, đạo đức, bio hiém trách nhiệm) và được.
đăng ký tại cơ quan quản lý hành nghề xây dựng của bang (Building Practitioners Board). Tùy theo năng lực, kinh nghiệm, Giám sát viên được phân thành 2 loại là Giám sát viên bậc 1 và bậc 2; giám sát viên bậc 1 được kiểm tra tất cả công trình xây dựng, không phân biệt loại va quy mô; giám sắt viên bậc 2 chỉ được kiểm tra các công trình từ 3 tang trở xuống, có tổng diện tích sin dưới 2000m2. gay từ khi xin phép xây dựng, chủ đầu tư phải chọn một Giám sắt viên xây dụng (cô thể của nhà nước hoặc tư nhân) để tién hành công tác kiểm tra trong suốt quá trinh thi công ti những bước chuyển giai đoạn quan trọng (được xác định ngay trong giấy phép xây dựng). Chủ đầu tư phải trả phí cho công tác kiểm tra này.
như một địch vụ buộc để xác nhận việc xây dựng của mình tuân thủ các quy <dinh về quản lý chất lượng công trình Mỹ: việc quản lý xây dựng tại Mỹ do các bang tự đảm nhiệm, chính quyền. trung ương không tham gia. Tại các bang, ệc quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền cấp quận, hạt (county) hoặc thành phổ (city / borough) thực hiện Cũng tương tự như ở Singapore và Australia, nguyên the QLCL xây dựng ở Mỹ là chủ công trình phải có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các quy định của. địa phương trong toàn bộ quá trinh xây dụng và việc tuân thủ này phải được chứng thực thông qua kiểm tra và xác nhận bởi người có thắm quyền.
Người có thẳm quyển kiểm tra và xác nhận công trinh tuân thủ quy định vé quản lý chất lượng xây dựng trong quá trình thi công gọi là Giám định viên (fnspcctor), thuộc một trong 3 thành phẫn sau: = Cơ quan quản lý nhà nước = Các tổ chức tư nhân, gọi là Tổ chức độc lập được công nhận + Các cá nhân được nhà nước công nhận Về nguyên tắc, chủ công trình được chủ động chọn Giám định viên (inspector) thuộc một trong 3 thành phần trên để thực hiện kiểm tra công trình, Giám định viên thuộc thành phần 2 và 3 ở trên được gọi chung là Giám định viên tư nhân có chúc năng kiểm tra công trình như giám định vi nhà nước nhưng phải báo cáo kết quả kiểm tra của mình cho cơ quan QLNN địa phương. Nếu phát hiện vi phạm, chỉ có cơ quan QLNN mới có quyền áp dụng các biện pháp chế tài Để trở thành Giám định viên, cá nhân phải đạt một số điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, có bảo hiểm trích nhiệm. và được chỉnh quyển địa phương công nhận ( ấp giấy chứng nhận, giấy phép). Tuy nhiên, tùy theo địa phương ma thủ tục công nhận khác nhau, một số bang yêu cầu ứng viên phải qua.
một kỳ thị hạy phòng vẫn, các bang khác chỉ yêu cầu ứng viên có chứng chỉ dio tạo nghiệp vụ do một số hiệp hội nghề nghiệp phát hành, “Theo sổ liệu năm 2010, & Mỹ có khoảng 102.400 giám định viên (Inspector), trong đồ 44 4 làm việc cho cơ quan QLNN của chính quyén địa phương; 27% làm việc trong các tổ chức độc lập (Certified Third Party Agencies), 8% li giám định. viên cá nhân, chủ yếu là Giám định viên nhà ở (Home Inspector), số côn lại làm việc cho chính quyền các bang. Nhu trên cho thấy ở các nước Singapore, Australia, Mỹ, đều có sự tham gia tích cực của thành phn tư nhân trong quá trình quan ly chất lượng công trình. Ở các nước này, lực lượng tư nhân mặc di cỏ tên gọi khác nhau (ở Singapore là Kiểm tra viên được ủy quyền , ở Australia là Giám sát viên tư nhân và ở Mỹ là Giám dịnh viên tư nhân ); nhưng có tính chất giống nhau là lực lượng hỗ trợ cơ quan nhà nước trong kiểm soát chất lượng xây dựng.
Tinh hình quản lý chất lượng xây đựng ở Việt Nam: Van bản về quản lý chất lượng công trinh xây dựng theo hướng phân cấp rõ ring và ai có liên quan đến hoạt đông xây dựng đều gắn với trách nhiệm, trong 4 chịu rách nhiệm chính về quản lý chất lượng công tình xây dựng vẫn là chủ đầu tứ Ngoài các bên tham gia xây dựng (chủ đầu tư, các nhà thầu. soát chất lượng công trình ở Việt Nam hiện nay hu như chỉ cổ các cơ quan quản lý Nhà nước đảm nhiệm thông qua ác biện pháp như kiểm tra, xử lý vi phạm, còn việc ham gia của xã hội rất hạn chế, Hiện nay e 2 cơ chế để xã hội tham gia vào công tác quản lý chất lượng công trình: theo quy trình pháp lý và tham gia tự phát ‘Tham gia theo quy trình pháp lý: Trước đây, việc tham gia của thành phần ngoài co quan QLNN trong quản lý chất lượng được quy định trong Nghị định. 209/2004/NĐ-CP của Chính phù, tại Điều 28 vé “Kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp chất lượng công trình".