CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTKSNB và các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB. Một số nghiên cứu về HTKSNB và tính hữu hiệu của HTKSNB như sau: Dựa trên nghiên cứu của Kakucha (2009), An Evaluation of Internal Control: The Case of Nairobi small businesses, đánh giá mức độ kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp nhỏ ở Nairobi chỉ ra những khiếm khuyết trong HTKSNB của các đơn vị này. Trọng tâm chính là đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông. Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa các khiếm khuyết trong KSNB và hiệu quả hoạt động tài chính.
Giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu này là các công ty phải nâng cao kiến thức của các nhà quản lý doanh nghiệp nhỏ trong việc thiết lập HTKSNB thông qua các diễn đàn hoặc hội thảo. Angella Amudo và Eno L. Inanga (2009) đã phát triển một mô hình tiêu chuẩn để đánh giá HTKSNB trong các dự án khu vực công của Uganda do Ngân hàng Phát triển Châu Phi tài trợ. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự thiếu vắng một số thành phần của KSNB dẫn đến hoạt động kém hiệu quả của HTKSNB.
Karagiorgos và cộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận của HTKSNB và hiệu quả hoạt động của KSNB trong hoạt động kinh doanh khách sạn của Hy Lạp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố của KSNB chính là: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Giám sát, Thông tin và truyền thông. Trong đó, nhân tố Môi trường kiểm soát được đánh giá cao nhất với điểm trung bình là 4.03, tiếp theo đó là nhân tố Hoạt động kiểm soát và nhân tố Thông tin và truyền thông có số điểm trung bình là 3.99, nhân tố Đánh giá rủi ro với điểm trung bình là 3.76 và cuối cùng là nhân tố Giám sát với điểm trung bình là 3. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của HTKSNB đều được đánh giá cao, mặt khác, nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến hiệu quả của tất cả các bộ phận của HTKSNB và vai trò quyết định 6 của chúng đối với hoạt động hiệu quả trong hoạt động kinh doanh khách sạn tại Hy Lạp.
Shiri và cộng sự (2013) đã tiến hành một cuộc khảo sát với ngân hàng Mellat tại Iran. Nghiên cứu này mục đích điều tra tính hiệu quả của KSNB trong lĩnh vực ngân hàng Iran trong năm 2011. Tác giả đưa ra 105 bảng câu hỏi với các câu hỏi về: (1) HTKSNB tại ngân hàng Mellat có thích hợp cho việc ngăn ngừa gian lận và sai sót không? (2) Có mối quan hệ kể giữa sự yếu kém của các thành phần KSNB (Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Thông tin và truyền thông, Hoạt động kiểm soát và Giám sát). Nghiên cứu cho thấy môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, Giám sát càng yếu kém thì sự cố sai sót và gian lận càng gia tăng, đặc biệt, sự yếu kém của môi trường kiểm soát là nhân tố đứng đầu trong các nhân tố tác động đến việc ngăn ngừa gian lận và sai sót tại ngân hàng Mellat.
Do đó, KSNB tốt chính là công cụ hữu hiệu trong việc ngăn chặn gian lận và sai sót, đảm bảo hoạt động của các ngân hàng tại Iran. Theo Nyakundi, Nyamita và Tinega (2014) đã thực hiện một nghiên cứu về tác động của HTKSNB đối với hoạt động tài chính của các DNVVN tại Kisumu, Kenya. Các tác giả tìm thấy mối liên hệ giữa kiến thức của các nhà quản lý doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Theo Gamage và cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu sự hữu hiệu của HTKSNB trong 2 ngân hàng thương mại nhà nước và 64 chi nhánh của 2 ngân hàng này tại Sri-Lanka, Tác giả đã kết luận HTKSNB là một phần chính trong bất kỳ tổ chức nào.
KSNB là quá trình được thiết kế và chịu ảnh hưởng bởi những người lãnh đạo, quản lý và các nhân viên khác để cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của tổ chức liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả hoạt động, tuân thủ luật pháp và các quy định hiện hành. Do đó, KSNB được thiết kế và vận hành để giải quyết các rủi ro kinh doanh đã xác định có thể đe doạ đến việc đạt được bất kỳ mục tiêu của đơn vị. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có 5 nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB bao gồm: (1) Môi trường 7 kiểm soát, (2) Đánh giá rủi ro, (3) Hệ thống thông tin truyền thông, (4) Các hoạt động kiểm soát, (5) Giám sát. Nghiên cứu của Thoyib và cộng sự (2015) đã chứng minh rằng phong cách lãnh đạo có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến năng suất lao động.
Ngoài ra, Anggraini và Setiawan (2011) cũng phát hiện ra rằng phong cách lãnh đạo ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu về sự tham gia và hiệu quả hoạt động của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Trong tình huống này, nhân viên cần những nhà lãnh đạo nhạy bén và quan tâm đến lợi ích của nhân viên. Mỗi nhân viên cần một nhà lãnh đạo có thể tạo ra sự hài lòng mới trong công việc hàng ngày của văn phòng. Những nỗ lực này có thể đạt được bằng cách thưởng cho những nhân viên giỏi hoặc bằng cách trừng phạt những nhân viên vi phạm các kỷ luật.
Cheng và cộng sự (2015) chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động của công ty cao hơn khi có KSNB thông qua việc nâng cao chất lượng của các báo cáo nội bộ để đưa ra quyết định. Ngoài ra, tác giả cũng ghi nhận rằng doanh nghiệp nhỏ được hưởng lợi nhiều hơn từ việc KSNB hiệu quả. Các doanh nghiệp có yếu kém về yếu tố KSNB sẽ bị suy giảm hiệu quả hoạt động nhiều hơn. Các doanh nghiệp khắc phục được điểm yếu trọng yếu của mình sẽ dần được cải thiện hiệu suất hoạt động.
Trong một nghiên cứu của Adagye (2015) về tính hiệu quả của KSNB trong các cơ sở giáo dục đại học của Bang Nasarawa, Nigeria mà cụ thể là Trường Bách Khoa Bang Nasarawa, Lafia. Tác giả đã chỉ ra rằng, việc phân bổ nhân sự không đúng vị trí, không đúng việc và việc không kiểm tra nhân sự thường xuyên đã làm cho KSNB ở Trường Bách Khoa Bang Nasarawwa, Lafia trở nên yếu kém. Điều đó cũng chứng minh được giả thuyết mà tác giả đưa ra đó là không có KSNB hiệu quả ở Bang Nasarawa. Eniola và cộng sự (2016) xem xét tác động của KSNB đối với hoạt động tài chính của các công ty Nigeria.
Nghiên cứu thu thập dữ liệu thông qua một bảng câu hỏi được thiết kế để gửi đến các công ty được chọn. Phương pháp chọn mẫu là một phương pháp phi xác suất và dữ liệu thu được từ các bảng câu hỏi được phân tích bằng các công cụ thống kê hồi quy trong SPSS. Các phát hiện cho thấy kiểm soát 8 nội bộ có mối quan hệ đáng kể với gian lận trong tổ chức. Dựa trên kết quả này, nghiên cứu khuyến nghị rằng các hội đồng quản trị nên xây dựng các chiến lược hiệu quả hơn để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của KSNB, từ đó giảm thiểu đáng kể gian lận trong tổ chức.2 Các công trình nghiên cứu trong nước Trong nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Thùy Mai (2008) luận văn thạc sĩ với đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao tính hiệu quả của HTKSNB tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay” Tác giả đã khảo sát thực trạng KSNB tại một số DNNVV tại Lâm Đồng, từ thực tế nghiên cứu tác giả kiến nghị một số giải pháp giúp nâng cao tính hữu hiệu của HTKSNB tại các DNNVV.
Kết quả nghiên cứu thực trạng hệ thống KSNB các DNNVV tại Lâm Đồng cho thấy phần lớn các DN đều có thiết lập HTKSNB, được đánh giá qua năm nhân tố cấu thành: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Tuy nhiên nhìn chung HTKSNB tại các DNNVV hoạt động chưa hiệu quả do các nguyên nhân sau: - Nhân sự về kế toán ít, kế toán chủ yếu thực hiện công việc báo cáo tài chính nhằm đối phó với các cơ quan chức năng; - Các nhà quản lý cho rằng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ chủ yếu phục vụ cho chính DN của họ; - Nguồn nhân lực ít, không có chuyên môn cao, thiếu nhân sự chuyên trách dẫn đến khó phân chia trách nhiệm rõ ràng dẫn đến việc khó kiểm soát; - Việc bảo mật thông tin trên hệ thống máy tính chưa được quan tâm đúng đắn, độ tin cậy của dữ liệu không cao; - Các nhà quản lý đưa ra quyết định kinh doanh chủ yếu dựa vào thông tin thị trường và kinh nghiệm phán đoán cá nhân hơn là dựa vào thông tin do hệ thống kế toán cung cấp; - Doanh nghiệp thiếu sự xem xét, đánh giá định kỳ HTKSNB. Từ các hạn chế nêu trên tác giả luận văn đã đề nghị hai nhóm giải pháp, về giải pháp vĩ mô với sự trợ giúp của nhà nước cần xây dựng hệ thống lý luận KSNB 9 của Việt Nam, thể chế hóa những quy định về luật pháp. Về phía doanh nghiệp, DNNVV cần chủ động, tích cực tự hoàn thiện, nâng cao tính hiệu quả của HTKSNB.
Tác giả Bùi Thị Tĩnh (2018) với luận án tiến sĩ về “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam” đã khái quát được lý luận chung về KSNB và HTKSNB, làm rõ được 6 đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam có ảnh hưởng đến KSNB theo hướng quản trị rủi ro. Tác giả đã đưa ra được 7 nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát, 3 nhóm giải pháp hoàn thiện đánh giá rủi ro, 5 nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm soát, 2 nhóm giải pháp hoàn thiện thông tin và truyền thông, và 3 nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát trong KSNB theo hướng quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp sản xuất giấy tại Việt Nam.