chương 1, tác giả đã khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan của nhiều tác giả về Kiểm soát nội bộ doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam và các giáo trình, sách báo uy tín nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, xác định rõ ràng các mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cơ bản, cũng như nhấn mạnh những đóng góp về lý luận, thực tiễn của luận văn mà tác giả thực hiện “Kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH Sản xuất, lắp ráp Tuấn Nghĩa”. 10 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 2. Lý luận chung về kiểm soát nội bộ trong Doanh Nghiệp 2.
Khái niệm, vai trò và hạn chế trong Kiểm soát nội bộ 2.Khái niệm Kiểm soát nội bộ Sự ra đời và phát triển của KSNB trải qua nhiều giai đoạn. Có thể chia thành hai giai đoạn như sau: - Thời kỳ tiền COSO (trước năm 1992): Trước khi Báo cáo COSO 1992 được công bố, khái niệm KSNB được sử dụng trong các tài liệu về kiểm toán từ đầu thế kỷ 20. Lúc này nhận thức của nhà quản lý đối với KSNB chỉ dừng lại ở việc coi KSNB như một khía cạnh tài chính trong chuỗi quá trình kiểm soát của DN. Vào năm 1949, lần đầu tiên khái niệm về KSNB được AICPA đưa ra, theo đó KSNB được định nghĩa như một kế hoạch và phương tiện (cách thức) phối hợp bên trong DN nhằm giúp DN bảo vệ tài sản, kiểm tra và đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu, gia tăng tính hiệu quả và đạt được mục tiêu liên quan tới tính chính trị, pháp luật mà DN đã xác định từ trước.
Định nghĩa này đã làm rõ và mở rộng các mục tiêu của KSNB trong các DN nhưng vẫn coi hoạt động KSNB chỉ như là công cụ (phương tiện, hoặc cách thức) để giúp nhà quản lý đạt mục tiêu. - Thời kỳ hậu COSO (thời kỳ hiện đại – từ năm 1992 đến nay): báo cáo COSO 1992 "Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất" ra đời đã định nghĩa "Kiểm soát nội bộ là quá trình do nhà quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính; tuân thủ luật lệ và các quy định; đảm bảo hoạt động hiệu lực và hiệu quả". Trong những năm đầu thập kỷ 21, từ sự sụp đổ của các tập đoàn lớn như Enrol, Worldcom… đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã bộc lộ rõ một cơ chế quản trị DN lỏng lẻo với hoạt động KSNB yếu kém. Để giúp các DN 11 đạt được mục tiêu kiểm soát, hoạt động KSNB đã mở rộng sang lĩnh vực quản trị DN, bao gồm xây dựng và vận hành các chu trình hoạt động, thủ tục KSNB, quản trị rủi ro và báo cáo tài chính.
Do vậy khái niệm KSNB đã thay đổi cùng với sự phát triển của khung quản trị DN. Theo đó trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị là thiết kế và vận hành ERM. Khung KSNB đã thay đổi theo sự chuyển động của nền kinh tế thị trường mà ở đó ERM cung cấp một nền tảng quan trọng trong việc đánh giá hoạt động DN dựa vào rủi ro và quá trình quản lý rủi ro. Điều này thực sự có ý nghĩa trong bối cảnh môi trường hoạt động kinh doanh hiện nay đang thay đổi nhanh chóng, nguy cơ tiềm ẩn gian lận, sai sót luôn hiện hữu đe doạ sự ổn định và thịnh vượng của DN.
Trong vòng hơn hai thập kỷ kể từ khi ra đời khuôn khổ cũ về KSNB (COSO 1992), môi trường kinh doanh và hoạt động đã thay đổi nhanh chóng không chỉ ở từng quốc gia mà còn lan toả sang các khu vực và toàn thế giới, xu hướng toàn cầu hoá các thị trường mở rộng, đồng thời các hoạt động trong DN ngày càng đa dạng và phức tạp hơn; những yêu cầu cao hơn về giám sát quản trị DN cũng được đặt ra; công nghệ thông tin thay đổi như vũ bão… đã tạo ra những dạng sai phạm mới phức tạp và tinh vi hơn. Điều này đã đòi hỏi khung KSNB tiếp tục phải được cập nhật để thích ứng với tình hình mới. Trong bối cảnh đó, COSO 2013 (Khuôn khổ mới) đã ra đời tiếp tục kế thừa khái niệm về kiểm soát nội bộ như COSO 1992 nhưng nhấn mạnh sự mở rộng mục tiêu báo cáo bao gồm báo cáo tài chính và các loại báo cáo khác (báo cáo phi tài chính và báo cáo nội bộ). Cũng theo quan điểm đó, thì “Kiểm soát nội bộ bao gồm năm yếu tố: môi trường kiểm soát, quy trình đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông; và các hoạt động giám sát”.
Cách hiểu này cũng đồng nhất với quy định trong chuẩn mực Kiểm toán quốc tế số 315 (ISA 315) "Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị". 12 Như vậy, có nhiều quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau về KSNB. Điểm chung giữa các quan điểm chính là coi KSNB là một bộ phận thuộc hệ thống quản lý DN được vận hành bởi con người, hoạt động theo một trình tự (quá trình) nhất định nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc các mục tiêu quản trị, điều hành DN sẽ được thực hiện. Nghiên cứu khái niệm KSNB xuất phát từ vai trò của KSNB đối với các đối tượng bên ngoài DN (như kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra tài chính…), có thể định nghĩa KSNB theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 – Xác định và đánh giá rủi ro rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị “Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan.Vai trò của kiểm soát nội bộ trong Doanh nghiệp Kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của Quản lý.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại nhiều lợi ích và có vai trò to lớn trong sự phát triển bền vững của Doanh nghiệp, tác giả xin liệt kê một số vai trò chủ yếu như: Kiểm soát nội bộ hiệu quả giúp bảo vệ tài sản DN Mỗi loại tài sản có giá trị và tính chất khác nhau, ảnh hưởng có nhất định khác nhau đến hoạt động kinh doanh DN mà có chế độ bảo vệ khác nhau. Chính vì vậy, kiểm soát nội bộ không chỉ đề ra các biện pháp bảo vệ mà còn tiến hành thẩm tra chúng để tránh những tổn thất tác động từ môi trường bên trong và bên ngoài. Ngoài ra còn phải xem xét tính hiệu lực, tính phù hợp của biện pháp đó thông qua việc kiểm kê, xác định số lượng, kiểm tra chi tiết hay mời chuyên gia để đánh giá được giá trị thực của tài sản, tránh tình trạng đánh tráo hay bị lợi dụng. 13 Kiểm soát nội bộ hiệu lực giúp đảm bảo thông tin có độ tin cậy cao Hằng ngày bạn có thể tiếp nhận vô vàn các dữ liệu trái chiều về một vấn đề cụ thể nào đó.
Kiểm soát nội bộ có hiệu lực giúp đảm bảo thông tin có độ tin cậy cao, giữ vai trò quan trọng trong các khâu kiểm tra, từ khâu ghi chép trên các chứng từ, đến việc ghi chép vào sổ sách, báo cáo…Bên cạnh đó, hệ thống này cũng chịu trách nhiệm thẩm tra lại các thông tin tài chính nhằm đảm bảo cho chiến lược phát triển của các tổ chức được chính xác hơn. Kiểm soát nội bộ giúp các nhà quản lý ngăn ngừa gian lận, thiếu sót Kiểm soát nội bộ có trách nhiệm cách ly và phân công từng bộ phận trong các đơn vị. Việc cách ly thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ cũng như việc phân công, phân nhiệm rõ ràng trong các bộ phận không chỉ giúp ổn định hoạt động của từng khâu mà còn tạo điều kiện cho từng bộ phận kiểm tra chéo lẫn nhau, xem xét và đánh giá một cách khách quan để tránh được những sai sót và các gian lận nếu có. Ví dụ như trong trường hợp thiếu vốn hoạt động, nếu chỉ sử dụng một nhà cung cấp duy nhất sẽ dẫn đến tình trạng độc tài, thông tin thu nhận được chỉ theo một chiều gây ra những thiếu sót trong quá trình quản lý như gian lận, tham ô, làm trái quy định pháp luật,… Kiểm soát nội bộ giúp đảm bảo hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu hóa các nguồn lực và đạt được mục tiêu đề ra Chủ thể quản lý (nhà quản lý, ban giám đốc,…) là người chịu trách nhiệm chính trong việc đề ra các chuẩn mực để sử dụng nguồn nhân lực tiết kiệm và hiệu quả.
Hệ thống kiểm soát nội bộ là phương tiện để tối ưu hóa các nguồn lực, hiện thực hóa các tiêu chuẩn thông qua việc xem xét tình trạng cơ sở vật chất có đủ tiêu chuẩn không, các thủ tục có nhanh gọn hay không, nhân sự thừa hay thiếu, năng lực chuyên môn của từng bộ phận đã phù hợp với công việc hay chưa,… Kiểm soát nội bộ hiệu quả sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, các nhà chủ sở hữu của công ty Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiên nay thì các nhà đầu tư luôn muốn có được các khoản đầu tư an toàn mà vẫn mang lại lợi nhuận cao. 14 Thông qua việc xem xét, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của DN, các nhà đầu từ có thể đánh giá phần nào đó mức độ an toàn của khoản đầu tư của bản thân. Hạn chế của kiểm soát nội bộ KSNB dù có được đầu tư rất nhiều trong trong thiết kế và vận hành thì vẫn không thể hoàn toàn hữu hiệu.