Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Lý luận chung về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp đầu tư xây dựng. Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Kinh doanh Nhà Hà Nội số 35. Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Kinh doanh Nhà Hà Nội số 35.
9 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 2. Lý luận chung về kiểm soát trong quản lý Trong quan hệ với tổ chức bộ máy, quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực đã xác định để đạt các mục tiêu đã đề ra. Chủ thể quản lý ở đây chính là bộ máy quản lý của đơn vị, bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp và bộ phận cán bộ chuyên môn thực thi các nghiệp vụ quản lý, điều hành đơn vị. Đối tượng quản lý chính là con người và sự vật, hiện tượng diễn ra trong đơn vị.
Đối tượng quản lý có nhiều đặc tính khác nhau do đó trong quá trình quản lý cũng phát sinh những vấn đề phức tạp ở mức độ khác nhau. Mục tiêu quản lý của đơn vị là sau một quá trình quản lý có thể đo lường và lượng hoá được kết quả mà đơn vị phải hướng tới trong một khoảng thời gian nhất định. Toàn bộ quá trình quản lý bao gồm 2 khâu chính: khâu định hướng và khâu tổ chức thực hiện những hướng đã định. Ở mỗi khâu, chức năng kiểm soát luôn được đề cao bởi nó cho biết mức độ sát thực của quản lý.
Để đạt được kế hoạch đã đề ra, khâu tổ chức thực hiện cần phải được coi trọng trong toàn bộ quá trình quản lý. Tổ chức thực hiện ở đây bao gồm từ việc áp dụng những chủ trương, trình tự đã được định hướng tới việc sử dụng hiệu quả những nguồn lực đã có. Trong khâu này người quản lý phải vận dụng các kỹ năng điều hành của mình để quản lý, chỉ đạo phối hợp các bộ phận. Kết quả hoàn thành được báo cáo và so sánh với các mục tiêu đã đặt ra trong kế 10 hoạch.
Từ kết quả này, người quản lý có thể kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động một cách phù hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra một cách tốt nhất. Ở khâu định hướng cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu đồng thời kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu đó, xây dựng các chương trình, kế hoạch. Sau khi các chương trình kế hoạch đã được kiểm soát thì có thể đưa ra các quyết định cụ thể để thực hiện. Ở khâu tổ chức thực hiện những hướng đã định cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát diễn biến và kết quả của các quá trình để điều hoà các mối quan hệ, điều chỉnh các mục tiêu nhằm đạt kết quả tối ưu.
Như vậy, kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch. Quy trình này bao gồm 3 bước khác nhau: đo lường thành quả hoạt động, so sánh thành quả thực tế với một chuẩn mực nào đó và có hành động để chỉnh sửa các sai lệch hoặc các chuẩn mực không phù hợp. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu bảo đảm rằng mọi hoạt động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo định nghĩa này, kiểm soát không phải là một giai đoạn hay một khâu của quá trình quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý.
Vì vậy có thể hiểu kiểm soát là một chức năng của quản lý. Tuy nhiên chức năng này cũng thể hiện rất khác nhau tuỳ thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hoá cũng như những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể. Một cách tổng quát, kiểm soát có thể được phân thành kiểm soát trực tiếp và kiểm soát tổng quát. 11 Kiểm soát trực tiếp là các thủ tục, các quy chế kiểm soát được xây dựng trên cơ sở đánh giá các yếu tố, các bộ phận cấu thành hệ thống quản lý.
Kiểm soát trực tiếp bao gồm 3 loại hình cơ bản: kiểm soát hành vi, kiểm soát xử lý và kiểm soát bảo vệ. Kiểm soát hành vi là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ do những nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động tiến hành. Đây là biện pháp tương đối hiệu quả nhằm phát hiện và ngăn chặn các gian lận, sai sót. Một hệ thống kiểm soát hành vi hữu hiệu sẽ giúp cho toàn bộ công việc kiểm soát được giảm nhẹ một cách đáng kể.
Kiểm soát xử lý là kiểm soát việc nắm bắt, giải quyết các giao dịch hay những công việc mà nhờ chúng các giao dịch được công nhận, cho phép, phân loại, tính toán, ghi chép, tổng hợp và báo cáo. Trong trường hợp thông tin được xử lý bằng hệ thống máy tính thì kiểm soát xử lý được thực hiện thông qua chức năng xử lý bằng điện toán. Kiểm soát bảo vệ là các biện pháp, quy chế kiểm soát nhằm đảm bảo sự an toàn của tài sản và thông tin trong đơn vị. Các trọng điểm nhằm vào mục đích này bao gồm: Một là: Phân định trách nhiệm bảo vệ tài sản, đặc biệt là phân định trách nhiệm bảo quản với trách nhiệm ghi chép về tài sản, hạn chế sự tiếp cận trực tiếp của người không có trách nhiệm với tài sản và sổ sách của đơn vị khi chưa được phép của người quản lý.
Chẳng hạn: Ban hành và thực hiện quy chế kiểm soát việc ra vào kho hàng, quy chế bảo trì và sửa chữa tài sản, kiểm soát việc tham khảo các tài liệu kế toán, các dữ liệu lưu trữ trong máy vi tính. Hai là: Hệ thống an toàn. Ví dụ nhà kho, két sắt chịu lửa, hệ thống báo động, báo cháy, cài đặt mã truy cập thông tin v. 12 Ba là: Kiểm kê hiện vật và xác nhận của bên thứ ba.
Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau. Trong môi trường tin học hoá quản lý ở mức độ cao thì kiểm soát tổng quát thuộc chức năng của phòng điện toán. Muốn đánh gía kiểm soát trong trường hợp này phải sử dụng các chuyên gia am hiểu về máy tính. Như vậy, qua nghiên cứu lý luận về kiểm soát trong quản lý có thể thấy kiểm soát là một chức năng của quản lý, gắn liền với quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm soát.
Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn, nội dung quản lý càng phức tạp, do đó công tác quản lý càng đòi hỏi nhiều ở kiểm soát. Tuy nhiên quản lý và chức năng kiểm soát trong quản lý là những công việc hết sức phức tạp đòi hỏi người quản lý không chỉ có đủ kiến thức, kỹ năng bản lĩnh mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu tình hình thực tế để có những quyết định phù hợp lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Lý luận về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 2. Khái niệm về Hệ thống kiểm soát nội bộ Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), hệ thống KSNB là một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm 4 mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo các quy định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động của đơn vị được tuân thủ đúng lúc, đảm bảo hiệu quả hoạt động.
Theo Định nghĩa chính thức hiện thời về HTKSNB đã được Ủy ban Tổ chức Tài trợ (COSO) của Ủy ban Treadway (Hoa Kỳ) quy định. Trong báo cáo có tầm ảnh hưởng sâu rộng “Khung tích hợp hệ thống kiểm soát nội bộ”, Ủy ban định nghĩa HTKSNB như sau: 13 “HTKSNB là một quá trình do HĐQT, Ban giám đốc và các nhân viên khác triển khai thực hiện, được thiết kế nhằm đưa ra mức độ đảm bảo hợp lý về việc đạt được mục tiêu trong các khía cạnh sau đây: Bảo toàn tài sản (mục tiêu an toàn hoạt động) Hiệu quả, hiệu suất của các hoạt động (mục tiêu hoạt động bao gồm các mục tiêu về hiệu quả hoạt động và lợi nhuận) Mức độ tin cậy của công tác báo cáo tài chính (mục tiêu thông tin) Tuân thủ các luật lệ, quy định áp dụng (mục tiêu tuân thủ). Mục đích của kiểm soát nội bộ HTKSNB chủ yếu do chính nhà quản lý đơn vị xây dựng để phục vụ cho mục đích quản lý của mình. Khi thiết lập và vận hành một HTKSNB, các nhà quản lý doanh nghiệp luôn hướng tới các mục đích đã vạch sẵn.
Theo định nghĩa của IFAC thì mục đích của HTKSNB là khá rõ ràng. Kết hợp quan điểm của các tổ chức khác nhau, có thể thấy mục đích của HTKSNB được thể hiện trên một số điểm sau: Một là: Điều hành và quản lý kinh doanh một cách có hiệu quả Các qui định cũng như các thủ tục kiểm soát phải bảo đảm công việc được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả, ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, tránh sự lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh dẫn đến việc sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả. Hai là: Đảm bảo chắc chắn các quy định và chế độ quản lý được thực hiện đúng thể thức. Các nhà quản lý thường điều hành hoạt động của đơn vị mình thông qua các quyết định và các qui chế quản lý.
Hệ thống KSNB sẽ giám sát mức độ hiệu năng, hiệu quả của các quyết định trong quá trình thực thi, bảo đảm tuân thủ đúng quy trình, đúng thể thức đã được quy định. 14 Ba là: Phát hiện kịp thời những vướng mắc trong kinh doanh để hoạch định và thực hiện các biện pháp đối phó. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh quyết liệt không thể tránh khỏi những khó khăn vướng mắc trong quá trình sản xuất kinh doanh. HTKSNB thông qua các mắt xích của mình có nhiệm vụ phát hiện ra những khó khăn vướng mắc đó, từ đó có những biện pháp đối phó phù hợp.
Bốn là: Phát hiện, ngăn chặn các sai phạm và gian lận trong kinh doanh.