CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Trong quy trình quản trị, chức năng kiểm soát luôn tồn tại một vị trí quan trọng, công việc này được thực hiện bởi một công cụ chủ yếu đó là hệ thống KSNB (internal control system) của doanh nghiệp.
Khái niệm KSNB được định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1929 trong công bố của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve Bulletin), theo đó KSNB là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác, đồng thời, thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động. Năm 1936, Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Mỹ (AICPA) đã định nghĩa KSNB: “là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong việc ghi chép của sổ sách” [8, tr. Năm 1958, trong tài liệu về thủ tục kiểm toán 29 (SAP 29 – Statement on Auditing Procedure 29) do Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) trực thuộc AICPA ban hành đã lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán, theo đó: KSNB về quản lý bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên quan chủ yếu đến tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị. Chúng thường chỉ liên quan gián tiếp đến thông tin tài chính, bao gồm các hoạt động kiểm soát như phân tích thống kê, nghiên cứu về thời gian và các động cơ, báo cáo về tính hiệu quả, chương trình huấn luyện nhân viên và kiểm soát chất lượng.
Kiểm soát về kế toán bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán. Chúng thường bao gồm các thủ tục kiểm soát như hệ thống xét duyệt và phê chuẩn, tách biệt nhiệm vụ giữ sổ sách và lập báo cáo với bảo quản tài sản, kiểm soát vật e 7 chất với tài sản và kiểm toán nội bộ. Nhìn chung, trước khi có Báo cáo COSO (Committee of Sponsoring Organizations of Treadway Commission – Uỷ ban của các tổ chức đồng bảo trợ) năm 1992, khái niệm KSNB chưa được định nghĩa một cách đầy đủ trên các phương diện. Với trách nhiệm thành lập để thống nhất định nghĩa về KSNB và các bộ phận cấu thành KSNB phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau, năm 1992 COSO đã phát hành Báo cáo KSNB – Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework), trong đó khái niệm KSNB được định nghĩa: “là một quá trình do người quản lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây: Đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính; Đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; Đảm bảo các hoạt động thực hiện hiệu quả” [11, tr.
Khái niệm KSNB được trình bày trong Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315 – Hiểu biết tình hình kinh doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu, do Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế (IAASB) ban hành năm 2003 cơ bản cũng đồng nhất với định nghĩa về KSNB trong Báo cáo của COSO năm 1992. Tuy nhiên, sau hơn 20 năm kể từ ngày phát hành Báo cáo KSNB – Khuôn khổ hợp nhất lần đầu tiên, môi trường kinh doanh và hoạt động điều hành của các doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi, ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi mục tiêu của KSNB cần được mở rộng hơn so với những khuôn khổ ban đầu. Chính vì vậy, năm 2013, COSO đã phát hành Báo cáo KSNB – Khuôn khổ hợp nhất cập nhật với khái niệm KSNB đã được bổ sung như sau: ‘‘KSNB là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp mọi sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu sau: Sự tin cậy của Báo cáo tài chính; Sự tuân thủ các luật lệ và quy định; Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động” [12, tr. Trong đó: - KSNB là một quá trình: Bởi hệ thống KSNB không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành e 8 liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong doanh nghiệp.
- KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên khác… Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. Cụ thể: Hội đồng quản trị và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa phù hợp nhằm hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục. Tất cả các thành viên của tổ chức đề tham gia vào quy trình này. - KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu phải được thực hiện.
Nguyên nhân bởi luôn có khả năng tồn tại những yếu kém xuất phát từ sai lầm của con người khi vận hành hệ thống kiểm soát, dẫn đến việc không thực hiện được mục tiêu. Việc KSNB có thể làm là ngăn chặn và phát hiện sai phạm nhưng không thể đảm bảo chắc chắn sẽ không xảy ra sai phạm nữa. Bên cạnh đó, quyết định của KSNB còn tùy thuộc vào nguyên tắc cơ bản: Sự đánh đổi lợi ích - chi phí. Chi phí kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát.
Vì vậy, KSNB chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lí, chứ không đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện. KSNB được chia thành hai loại: + Kiểm soát kế toán: Là các chính sách và quá trình thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu là bảo vệ tài sản và đảm bảo thông tin kế toán chính xác, tin cậy. + Kiểm soát quản lý: Là các biện pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khuyến khích sự tham gia của nhân viên đối với các chính sách quản lý của công ty. Vai trò của kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán là như nhau.
Tuy nhiên, kiểm soát quản lý chủ yếu đề cập đến những vấn đề liên quan đến tổ chức, chủ trương của đơn vị và ít có quan hệ đến sự hợp lý của thông tin kế toán. Còn kiểm soát kế toán chủ yếu chú trọng đến sự hợp lý của thông tin kế toán. Vì vậy hai loại kiểm soát này có quan hệ mật thiết, bổ sung hỗ trợ cho nhau e 9 trong quá trình quản trị. Hiệu quả của loại kiểm soát này có tác động đáng kể đến tính hiệu quả của loại kiểm soát kia.
Mục tiêu của kiểm soát nội bộ - Đối với báo cáo tài chính: KSNB phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy. - Đối với tính tuân thủ: KSNB phải đảm bảo việc chấp hành luật pháp và các quy định của công ty, thêm vào đó còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các quy định nội bộ của công ty, qua đó đảm bảo đạt được những mục tiêu của đơn vị. - Đối với mục tiêu sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, KSNB giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh. Như vậy, các mục tiêu của KSNB rất rộng, bao trùm lên mọi hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Ý nghĩa của kiểm soát nội bộ Một hệ thống KSNB vững mạnh có ý nghĩa: - Giúp cho việc quản lý hoạt động kinh doanh của đơn vị có hiệu quả, giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh. - Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng mất mát, hao hụt gian lận, sử dụng sai mục đích. Đảm bảo tính chính xác, kịp thời của các số liệu, các báo cáo kế toán. - Bảo đảm mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của pháp luật.
- Đảm bảo yếu tố hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được những mục tiêu đã đề ra. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống COSO 2013 có tiền thân xuất phát từ hệ thống COSO 1992. Theo Báo cáo COSO 1992, hệ thống KSNB bao gồm năm bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: (1) Môi trường kiểm soát (2) Đánh giá rủi ro e 10 (3) Hoạt động kiểm soát (4) Thông tin và truyền thông (5) Giám sát Kế thừa năm thành phần trên, hệ thống COSO 2013 đã mở rộng và cho ra 17 nguyên tắc diễn giải cho những khái niệm cơ bản liên quan đến mỗi yếu tố cấu thành đó. Tất cả 17 nguyên tắc áp dụng cho mỗi phạm trù mục tiêu chung và cho cả những mục tiêu riêng rẽ bên trong mỗi một phạm trù.
Bởi vì 17 nguyên tắc này được lấy trực tiếp từ những yếu tố cấu thành. Môi trường kiểm soát Là nền tảng ý thức, văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức. Môi trường kiểm soát là nền tảng cho bốn bộ phận còn lại của hệ thống KSNB nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB.
Điều này không chỉ đúng trong giai đoạn thiết kế mà cả trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Theo COSO 2013, mội trường kiểm soát gồm các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc 1: Đơn vị chứng minh các cam kết về tính trung thực và giá trị đạo đức. Điều này thể hiện rằng người quản lý phải chứng tỏ đơn vị quan tâm đến tính trung thực và giá trị đạo đức.