Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu, xác định vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn. HVTH : PHẠM HUY HOÀNG - 1770126 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGUYỄN ANH THƯ Chương 2 : Tổng quan về VM, đưa ra các định nghĩa cơ bản, các yếu tố phải xem xét trước khi nghiên cứu VM, thời gian thực hiện VM, lợi ích của VM, sự phát triển toàn cầu của quản lý giá trị, đưa ra các nghiên cứu tương tự. Chương 3: Mô tả quy trình nghiên cứu, đưa ra bảng câu hỏi khảo sát, cách thức thu thập số liệu, công cụ nghiên cứu, cơ sở lý thuyết của phương pháp nghiên cứu ( xây dựng thang đo likert 5 điểm, mô hình nhân tố khám phá EFA) Chương 4: Phân tích, đánh giá kết quả từ bảng khảo sát, so sánh kết quả với các nghiên cứu tương tự ở nước ngoài ( Malaysia, Trung Quốc, Úc ), đề xuất giải pháp khắc phục những cản trở việc áp dụng VM tại Việt Nam.
Chương 5: Xây dựng một quy trình internal value management khuyến nghị cho đơn vị thi công chính, đưa ra một case study cụ thể áp dụng VM. Chương 6: Đóng góp của nghiên cứu. Chương 7: Trình bày những kết luận, kiến nghị. HVTH : PHẠM HUY HOÀNG - 1770126 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS.
NGUYỄN ANH THƯ CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Nội dung chương này trình bày lý thuyết về các khái niệm, vai trò công tác quản lý chi phí trong các giai đoạn thi công dự án và trả lời được các câu hỏi : Tại sao phải áp dụng quản lý giá trị để quản lý các dự án xây dựng ? Quản lý giá trị là quản lý những cái gì? Để áp dụng quản lý giá trị trong ngành xây dựng cần có những điều kiện gì? Làm thế nào để đơn vị thi công chính quản lý và kiểm soát chi phí ? Phương pháp Value Management có gì khác so với phương pháp kiểm soát chi phí truyền thống ? Những lợi ích khi áp dụng quản lý giá trị là gì ? Các nghiên cứu tương tự trước đây, đồng thời cũng nêu lên những lợi ích, thách thức và vai trò của phương pháp quản lý giá trị trong quản lý chi phí của đơn vị thi công.1 Các định nghĩa cơ bản 2.1 Phương pháp kiểm soát chi phí truyền thống Theo NG KIM LAI, “ Value management in construction industry” (2006) [34] , phương pháp quản lý chi phí truyền thống là kiểm soát chi phí dự án trong đó bao gồm việc tổng hợp và báo cáo các thông tin dự án hàng tuần như sản lượng thi công, chi phí tương ứng, tiến độ thi công thực tế .Các mục tiêu chính của phương pháp này như sau: ● Để đạt được lợi nhuận tối đa và tiến độ thi công ngắn nhất mà không thay đổi chất lượng và đáp ứng được yêu cầu của dự án. ● Để có được báo cáo vào mỗi giai đoạn thi công nhằm so sánh thực tế với mục tiêu đề ra hoặc xác định rủi ro có thể xảy ra. Phương pháp quản lý chi phí truyền thống đã có từ lâu, được nhiều các công ty, đơn vị thi công, ban QLDA sử dụng, tuy nhiên nó vẫn còn có khá nhiều nhược điểm cần được cải thiện như: ● Trong vòng đời của dự án, người quản lý không có cái nhìn tổng và nhận dạng được giai đoạn, khu vực nào có chi phí cao. ● Thiếu cơ hội đóng góp ý kiến do không có sự tham gia đa đội nhóm.
● Không có công cụ đánh giá và kỹ thuật xem xét công năng, kỹ thuật ra quyết định và lập kế hoạch nghiên cứu như VM.2 Phương pháp quản lý giá trị (VM) Theo nhiều tài liệu nghiên cứu trước đây, phương pháp quản lý giá trị (VM) được định nghĩa gần giống nhau như một quy trình quản lý và nâng cao giá trị. Value Management là một hệ thống quy trình dự án giúp đạt được sự cân đối nhất giữa chi phí, chất lượng và hiệu suất cũng như công năng của dự án xây dựng.[1] HVTH : PHẠM HUY HOÀNG - 1770126 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGUYỄN ANH THƯ Hình 2. 1 Vai trò của VM Tại một số quốc gia và châu lục có VM phát triển mạnh như Australia, Hoa Kỳ, Châu Âu, Ấn Độ… VM được định nghĩa như sau : Tại Hoa Kỳ, theo hiệp hội VE quốc tế (SAVE.Int), Value Engineering, Value Analysis hay Value Management đều được định nghĩa giống nhau.
Nó được áp dụng bởi đa đội nhóm, xây dựng hệ thống quy trình, chuẩn bị kế hoạch để nâng cao giá trị của một dự án thông qua việc xem xét công năng.[24] Tại Ấn Độ ( INVEST ) , VM là cách tiếp cận hệ thống đội nhóm. Thông qua việc cải thiện chất lượng cũng như chi phí dự án, tập trung vào giảm chi phí mà không ảnh hưởng đến chất lượng, công năng của dự án .[24] Tại Châu Âu (IVM) Value Management là một hình thức quản lý đặc biệt để thúc đẩy đội nhóm, phát triển các kỹ năng, cải thiện tương tác làm việc với mục tiêu tối đa hiệu suất tổng thể của đội nhóm.[24] Tiêu chuẩn Australia / New Zealand 4183: 1994 của Australia và New Zealand định nghĩa VM là một hệ thống quá trình phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những chi phí dư thừa, nâng cao giá trị của dự án với mức chất lượng và công năng tối đa.[1] Có thể được định nghĩa khác theo một số tác giả nổi tiếng trong lĩnh vực này là: D.Miles ( 1993) VM là một hệ thống xử lý các vấn đề, được triển khai bằng cách sử dụng những kỹ thuật, kiến thức cụ thể, kỹ năng làm việc của đội nhóm. Đó là phương pháp tiếp cận sáng tạo với mục đích loại trừ những chi phí dư thừa mà không ảnh hưởng đến chất lượng cũng như công năng của dự án.[24] Dell’Isola (1997) VM là một nỗ lực có hệ thống được thực hiện bởi đa đội nhóm, mục tiêu cải thiện giá trị, tối ưu chi phí vòng đời của dự án. VM xác định những chi phí dư thừa có khả năng loại bỏ trong khi vẫn đảm bảo chất lượng cũng như công năng ở mức độ đáp ứng hoặc vượt hơn mức mong đợi của khách hàng.[24] Norton (1995: 11) VM là một nỗ lực có hệ thống, đa lĩnh vực được phát triển theo hướng xem xét công năng của các dự án nhằm mục đích đạt được điều tốt nhất giá trị với chi phí vòng đời thấp nhất.
Value management có thể được xác định bằng 5 từ khóa hoặc cụm từ như : [2] HVTH : PHẠM HUY HOÀNG - 1770126 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGUYỄN ANH THƯ Quá trình có hệ thống: Là quá trình kế hoạch công việc bao gồm các chuỗi công việc của đội nhóm VM có bắt đầu và kết thúc rõ ràng và nó khác với các bài toán cắt giảm chi phí thường không có cấu trúc và được tiến hành theo cách không phổ biến. Nỗ lực đa ngành: Một nhóm các cá nhân được tập hợp lại để phân tích, đánh giá về mặt chi phí, chất lượng, công năng của dự án đang nghiên cứu. Tất cả họ làm việc cùng nhau như một team, có 1 người trưởng nhóm VM.
Chức năng: Phân tích chức năng để đạt được những yêu cầu của khách hàng là nền tảng của VM và đây là điều khác biệt phương pháp VM với các phương pháp quản lý khác. VM được triển khai nhưng vẫn không ảnh hưởng đến các an toàn, chất lượng, tiến độ, công năng, tính thẩm mỹ mà khách hàng yêu cầu. Giá trị: VM không chỉ có chức năng là giảm chi phí mà còn cải thiện được giá trị của dự án. Giá trị được tạo thành bằng cách cân đối giữa chi phí, chất lượng, thời gian thi công và công năng của dự án.
Giá trị cũng có thể được coi là lợi ích của khách hàng trong xây dựng ở các giai đoạn của vòng đời dự án từ lập kế hoạch, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, đấu thầu, thi công, vận hành và bảo trì. Theo Norton (1995: 14) có ba cách chính để cải thiện giá trị bằng cách áp dụng VM: ● Cung cấp cho các chức năng cần thiết của dự án nhưng với chi phí thấp hơn; ● Cung cấp các chức năng bổ sung mà không làm tăng chi phí; ● Cung cấp các chức năng bổ sung và đồng thời để giảm chi phí. 2 Các đối tượng của giá trị ( Nguồn : Kelly, 1993:159) Chi phí vòng đời: Là giá trị hiện tại của tổng chi phí xây dựng trong toàn bộ các giai đoạn của vòng đời dự án thời gian hoạt động và bao gồm vốn ban đầu và chi phí xây dựng, chi phí vận hành và bảo trì và thanh lý tài sản cuối cùng. HVTH : PHẠM HUY HOÀNG - 1770126 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS.
NGUYỄN ANH THƯ Trước khi bắt đầu một nghiên cứu VM phải xem xét các yếu tố sau:[2] ● Phân tích tiềm năng, dự đoán kết quả đầu ra như thế nào? ● Giai đoạn khả thi của vòng đời phát triển dự án; ● Sự cần thiết để đội nhóm VM tham gia và áp dụng rộng rãi; ● Các bên tham gia sẽ thu được lợi ích gì? ● Tiềm năng sẵn có của các bên tham gia. ● Chi phí cho việc nghiên cứu VM trong ngành xây dựng Việt Nam. Thực hiện VM ở giai đoạn nào? Theo “ SAVE International Value Methodology Standard ;2006 Edition” thì VM có thể thực hiện được tất cả các giai đoạn của một dự án. Tuy nhiên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu ở giai đoạn thi công của dự án.
Chi phí tiết kiệm có thể được minh họa dưới đây: Hình 2. 3 Giai đoạn thực hiện VM ( nguồn SAVE International Value Methodology Standard ;2006 Edition) Các loại dự án phù hợp với nhất với VM: Norton (1995: 18) đã xác định các loại dự án sau đây sẽ có lợi nhất từ VM: Dự án chi phí cao: VM có thể tiết kiệm tới 5-15% tổng chi phí tham gia vào dự án và do đó rất hiệu quả khi áp dụng VM vào dự án chi phí đầu tư lớn. Các dự án phức tạp: Với một nghiên cứu VM người tham gia có cơ hội để có được các chuyên gia tham vấn ý kiến, đặc biệt là nếu có thành viên trong nhóm độc lập từ thiết kế ban đầu. Đối với các dự án phức tạp, điều quan trọng là có được chuyên gia góp ý kiến.
Bằng cách sử dụng VM, có thể chú ý đến các vấn đề phức tạp. HVTH : PHẠM HUY HOÀNG - 1770126 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS.