CHƯƠNG 1 Xây dựng mối quan hệ nguyên nhân – kết quả giữa các biến rủi ro an toàn tác động trực tiếp, gián tiếp đến cần trục tháp. Xây dựng mô hình tổng quát giúp các nhà quản lý, nhà thầu thi công lường trước khả năng xảy ra tai nạn cần trục tháp đối với công trình mình đang thi công, từ đó giúp họ kiểm soát, đưa ra các giải pháp hạn chế và giảm thiểu nguy cơ mất an toàn. Đóng góp dự kiến của đề tài 1. Tính học thuật Nghiên cứu góp phần xác định 24 yếu tố ảnh hưởng đến an toàn cần trục tháp trên công trường, đồng thời sử dụng công cụ BBNs xây dự mô hình dự báo từ 22 yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất để đánh giá mức độ an toàn.
Tính thực tiễn Thực tế, sự phức tạp trong môi trường xây dựng luôn tiềm ẩn những rủi ro an toàn do nhiều nguyên nhân khác nhau không lường trước được. Do đó, việc nghiên cứu xác định những yếu tố ảnh hưởng đến an toàn cần trục tháp là cần thiết nhằm đảm bảo an toàn tính mạng người lao động, người dân cũng như chi phí dự án và tránh các sự cố đáng tiếc xảy ra. Trong giới hạn về các nguồn lực nghiên cứu, đề tài góp phần xác định những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động an toàn của cần trục tháp trên công trường. Kết quả phân tích, thống kê nhận dạng các nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất để kiểm soát và ngăn ngừa.
Qua đó, giúp các nhà thầu thi công, quản lý ATLĐ, TVGS, QLDA, … có thêm công cụ để quản lý vận hành an toàn cần trục tháp. Trang 16 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. An toàn An toàn là tình trạng không gây chấn thương, nguy hiểm đến tính mạng, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và hư hỏng máy, thiết bị, dây chuyền, quá trình công nghệ sản xuất [10]. An toàn là trạng thái mà khả năng gây hại cho người hoặc hủy hoại tài sản được giảm thiểu và duy trì tại hoặc dưới mức độ chấp nhận được thông qua quá trình liên tục nhận dạng mối nguy hiểm và quản lý rủi ro [11].
An toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là hệ thống các biện pháp về tổ chức và quản lý, điều hành trên công trường nhằm cải thiện điều kiện lao động và ngăn chặn tai nạn lao động trong thi công xây dựng công trình [12]. Tai nạn Tai nạn, còn gọi là chấn thương không chủ ý, là một sự kiện không mong muốn, ngẫu nhiên và không có kế hoạch, dẫn đến bị thương hoặc chết người. Tai nạn có thể được ngăn chặn nếu tránh được hoàn cảnh dẫn đến tai nạn, hoặc hành động ngay trước khi nó xảy ra (wikipedia). Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động đột ngột từ bên ngoài của các yếu tố nguy hiểm có thể gây chết người hoặc làm tổn thương hoặc làm phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó trên cơ thể (wikipedia).
Tai nạn lao động được chia làm 3 loại: Tai nạn lao động chết người Tai nạn lao động nặng Tai nạn lao động nhẹ 2. Rủi ro Rủi ro là sự không chắc chắn hoặc mối nguy hiểm bất lợi, là khả năng xảy ra một kết quả không mong muốn và có thể đo lường được [13]. Rủi ro có 2 loại: Rủi ro có lợi và rủi ro bất lợi. Trang 17 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 Rủi ro bao gồm 3 yếu tố: xác suất xảy ra (Probability), khả năng ảnh hưởng đến đối tượng (Impacts on objectives) và thời lượng ảnh hưởng (Duration).
Bản chất rủi ro là sự không chắc chắn (uncertainty), nếu chắc chắc (xác suất bằng 0% hoặc 100%) thì không gọi là rủi ro.1 Quản lý rủi ro trong chu kỳ sống dự án [13] Quản lý rủi ro là những quá trình có liên quan tới việc nhận dạng, phân tích và đáp ứng lại với sự không chắc chắn trong suốt chu kỳ sống của dự án [14]. Quản lý rủi ro là một phần của QLDA quyết định sự thành công hay thất bại của dự án. Nhận dạng Phân tích Phát triển Kiểm soát rủi ro rủi ro ứng phó rủi ro Hình 2.2 Quá trình quản lý rủi ro Quá trình quản lý rủi ro là liên tục nhận dạng những rủi ro và sự không chắc chắn có thể xảy ra để đưa vào phân tích, ước lượng xếp hạng mức độ ảnh hưởng khi xảy ra. Từ đó, chúng ta phát triển ứng phó phù hợp với những rủi ro đã được phân tích (loại bỏ rủi ro, giảm thiểu rủi ro, chuyển rủi ro hay chấp nhận rủi ro).
Cuối cùng, kiểm soát rủi ro khi thực hiện là khâu quan trọng bởi môi trường làm việc liên tục thay đổi nên cần thiết theo dõi và kiểm soát để đánh giá mức độ rủi ro và phản ứng một cách phù hợp với thực tế. Trang 18 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 2. Cần trục tháp 2. Định nghĩa Cần trục tháp hay còn gọi là cẩu tháp, là loại cần trục có bộ phận thân tháp lắp ráp từ các đoạn tháp rời tăng dần theo chiều cao của công trình, có tầm với rất lớn.
Cấu tạo chung Cần trục tháp có một thân tháp cao từ 30 m đến 75 m. Phía gần đỉnh tháp có gắn cần dài 12 m đến 50 m bằng chốt bản lề. Một đầu cần còn lại được treo bằng cáp hoặc thanh kéo đi qua đỉnh tháp.3 Cấu tạo chung của cần trục tháp [15] Trang 19 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 Cấu tạo chung gồm 2 phần: Phần quay bố trí các cơ cấu công tác gồm: tời nâng vật, tời nâng cần, tời kéo xe con, cơ cấu quay, đối trọng, trang thiết bị điện và các thiết bị an toàn. Phần không quay có thể đặt cố định trên nền hoặc có khả năng di chuyển trên ray nhờ cơ cấu di chuyển Tất cả các cơ cấu của cần trục đều được điều khiển từ buồng lái (cabin) treo trên cao gần đỉnh tháp.
Công dụng Cần trục tháp dùng để vận chuyển vật liệu xây dựng và các cấu kiện xây dựng lên cao. Cần trục tháp thường được sử dụng để thi công nhà cao tầng, trụ cầu lớn, công trình thủy điện có độ cao lớn, khối lượng công việc nhiều và trong một thời gian thi công dài. Phân loại Dựa trên đặc điểm làm việc của thân tháp thì cần trục tháp chia làm 2 loại: Cần trục tháp có thân tháp quay. Cần trục tháp có thân tháp không quay (đầu tháp quay).
Dựa vào dạng cần, chia 2 loại: Cần trục tháp có cần nâng hạ. Cần trục tháp có cần đặt nằm ngang. Dựa vào khả năng di chuyển: Cần trục tháp đặt cố định. Cần trục tháp di chuyển trên ray.
Dựa vào khả năng thay đổi độ cao, có các loại sau: Cần trục tháp tự nâng, tăng dần độ cao bằng cách nối dài thêm thân tháp. Cần trục tháp tự leo, cần trục leo dần lên cao theo sự phát triển độ cao của công trình. Cần trục tháp không thay đổi được độ cao. Cần trục tháp sử dụng phổ biến Cần trục tháp được sử dụng phổ biến trên công trường xây dựng ở Việt Nam là loại: cần trục tháp có cần đặt nằm ngang và cần trục tháp có cần nâng hạ.
Trang 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 Cần trục tháp có cần đặt nằm ngang, phải dùng cơ cấu xe con di chuyền trên tay cần để thay đổi tầm với [15]. Thân tháp được neo vào công trình nên đảm bảo ổn định cho cần trục khi hoạt động. Do thân tháp cố neo cố định vào công trình nên mâm quay cùng các phần quay được của cần trục phải đặt trên cao tại đỉnh thân tháp. Cấu tạo của phần quay của cần trục bao gồm: Mâm quay có tâm trùng với tâm trụ tháp (trục máy).
Bên trên mâm quay là 2 tay cần đặt ở 2 phía đối diện của trục máy là tay cần đối trọng và tay cần chính nâng vật cẩu. Trên đỉnh cao nhất nối dài của thân tháp phía trên mâm quay là bu-ly đỡ cáp treo cần chính. Cáp treo cần chính vắt qua bu-ly treo cần để neo vào đối trọng đặt trên cao tại đầu mút tay cần đối trọng. Buồng lái (cabin) được treo cùng phía với tay cần chính tại phần trên mâm quay.4 Cần trục tháp có cần đặt nằm ngang Phần thân và đế cần trục tháp thường có 2 dạng bố trí cố định trên mặt bằng: Dạng bố trí bên cạnh công trình, nối dần các đốt theo suốt chiều cao và neo dần vào các tầng kết cấu công trình xây dựng đã được thi công xong.
Trang 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 Dạng thứ hai là cần trục tháp tự leo trong lồng thang máy bên trong mặt bằng công trình.5 Cần trục tháp có cần nâng hạ Cần trục tháp có cần nâng hạ, sử dụng tay cần nâng hạ để thay đổi tầm với thay vì xe con di chuyển. Cấu tạo này là khác biệt cơ bản của 2 dạng cần trục trên, ngoài ra các bộ phận khác của 2 loại cần trục này đều có cấu tạo tương tự nhau. Các yêu cầu kỹ thuật đối với cần trục tháp 2. Lựa chọn cần trục tháp Theo Tiêu chuẩn TCVN 7549-3:2007 Cần trục – Sử dụng an toàn – Phần 3: Cần trục tháp [16] yêu cầu về việc lựa chọn cần trục tháp phải tính đến các vấn đề: Khối lượng, kích thước và các đặc điểm của tải; Tốc độ vận hành, bán kính, chiều cao nâng và các khoảng chuyển động; Số lượng tần suất và các kiểu thao tác nâng; Khoảng thời gian yêu cầu đối với cần trục hoặc tuổi thọ dự tính đối với một cần trục được lắp đặt cố định; Địa điểm, mặt đất và điều kiện môi trường hoặc các hạn chế phát sinh do sử dụng các công trình hiện có; Trang 22 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2 Không gian lối vào cho cần trục, lắp ráp, di chuyển, vận hành và tháo dỡ cần trục; Các yêu cầu riêng bất kỳ cho vận hành hoặc các giới hạn phải tuân thủ.
Vận tốc gió có thể hạn chế việc sử dụng các cần trục tháp ở các địa điểm xác nhận và có thể yêu cầu phải giới hạn chiều cao của tháp hoặc chiều dài của cần; Đặc điểm chính của các kiểu cần trục tháp thông dụng như đã quy định trong ISO 4306-3.