Chương I GIỚI THIỆU L1 TONG QUAN Nhiều nghiên cứu đã chi ra rang một trong những công việc có liên quan nhất trong việc thiết kế kết cau thép và kết cau liên hợp là việc đánh giá chính xác về ứng xử của mô hình kết cau đại diện cho ứng xử thực tế của liên kết dầm-cột. Van dé nay đã là chủ dé của nhiều nghiên cứu. Trong thiết kế trạng thái giới hạn cần nghiên cứu sâu rộng về các ứng xử của kết cầu ứng với các cấp tải cudi cùng, độ cứng của các liên kết dầm-cột đóng vai trò rất quan trọng tới khả năng chịu lực cực hạn của kết cấu khung thép. Việc dự đoán ứng xử của kết cầu lý tưởng mà không kể đến độ cứng của liên kết dầm-cột có thé dẫn đến việc đánh giá không chính xác ứng xử thực tế của kết cau trong phân tích thiết kế kết cau.
Trong thiết kế kết cấu thép truyền thống, hầu hết các liên kết dầằm-cột được giả định là mô hình liên kết cứng (rigid connection) hoặc liên kết khớp (hinge) dé đơn giản hóa mô hình phân tích. Liên kết cứng là liên kết mà ở đó không xảy ra góc xoay giữa các cấu kiện liên kết và truyền toàn bộ mômen uốn, lực cắt và lực dọc. Ngược lại, liên kết khớp được đặc trưng bởi chuyển vị xoay tự do giữa các cau kiện liên kết và không có truyền mômen uốn giữa các cầu kiện của liên kết mà chi truyền lực lực dọc và lực cat. Tuy nhiên trong thực tế, các liên kết không thé hiện được ứng xử ly tưởng như vậy.
Các liên kết giữa dầm và cột có ứng xử năm ở giữa ứng xử của liên kết cứng và liên kết khớp do đó những liên kết này được gọi là nửa cứng (semi-rigid connection). Liên kết nửa cứng được đặc trưng bởi đường cong quan hệ mômen-góc xoay riêng của từng loại liên kết. Hầu hết các thí nghiệm đều chứng minh rang đường cong quan hệ mômen-góc xoay của các loại liên kết đều có ứng xử phi tuyến. Điều đó cho thấy răng việc mô phỏng liên kết dầm-cột hợp lý là rất quan trọng dé thiết kế và phân tích kết cấu chính xác.
Khác với phi tuyến liên kết, ảnh hưởng bậc hai của phi tuyến hình học của dầm và cột cũng đóng vai trò quan trọng. Phân tích kết cau có kế đến phi tuyến hình học trong phân tích bậc hai hay phân tích P-Delta (P-8 và P-A). Ứng xử phi tuyến hình học xảy ra khi có sự biến đổi 4 hình học của các thành phan dầm-cột khi bị uốn cong và kết cấu xuất hiện các chuyền vị ngang (hoặc lệch) so với trạng thái ban đầu. Một điều quan trọng khác là việc phân tích động cho khung thép phăng có xét đến ảnh hưởng của độ cứng liên kết, đặc biệt là liên kết nửa cứng phi tuyến.
Phần lớn các nghiên cứu và phân tích thiết kế thực hành chỉ tập trung vào phân tích ứng xử tĩnh của hệ kết cau. Phân tích tĩnh tuy đơn giản nhưng không phan ánh được chính xác ứng xử của hệ do bỏ qua tác động của hiện tượng cộng hưởng và khả năng giảm chấn nhờ ứng xử vòng trễ của liên kết. Do đó cần phải nghiên cứu ứng xử động của hệ kêt cau dé có thê tiên đoán chính xác hơn ứng xử của hệ kết cau.2 TINH HÌNH NGHIÊN CỨU I2.1 Tình hình nghiên cứu trên thé giới Các nghiên cứu về ứng xử của khung thép có liên kết nửa cứng cần có biểu đỗ quan hệ mômen-góc xoay của liên kết ứng với trường hợp tải tĩnh và biểu dé ứng xử vòng trễ của quan hệ mômen-góc xoay đối với tải động. Các thí nghiệm về khung thép có liên kết nửa cứng đã được thực hiện và nghiên cứu cho từng loại liên kết khác nhau ứng với tải tĩnh và động.
Những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên được tiến hành bởi Rathbun (1936), Hechtman và Johnston (1947). Trong các nghiên cứu này 15 kết quả thực nghiệm với tải tĩnh được tiến hành trên liên kết thép góc trên và dưới dầm (Top and seat angle connection) được liên kết bang đinh tán cho thay răng liên kết chịu một phan mômen đầu dầm do đó được xem như liên kết nửa cứng. Từ kết quả thực nghiệm của liên kết thép chịu tải lặp, Popov và Pinkley (1968) dùng hàm Ramberg-Osgood hiệu chỉnh dé dé xuất mô hình vòng trễ của liên kết sát với kết quả thực nghiệm. Markley và Gestlen (1982) đã báo cáo các kết quả của 26 thí nghiệm trên các loại liên kết khác nhau của liên kết nửa cứng.
Đường cong mômen-góc xoay được thiết lập dựa vào những kết quả thí nghiệm của các trường hợp tải tuần hoàn va tai tĩnh. Driscol và Lu (1989) báo cáo kết qua thí nghiệm của 6 khung đúng ty lệ dùng liên kết thép góc trên và dưới dầm (top and seat angle connection) chịu tải 5 trọng tuần hoàn, trong đó số hàng bulông. bề dày thép góc kẹp trên va bulông kéo trước được cau tạo khác nhau. Gan đây, Nader và Astaneh (1991) [2] đã thực hiện thí nghiệm bàn lắc giả lập điều kiện động đất tác động vào khung công có liên kết lần lượt là khớp (hai thép góc hai bên bụng dầm), nửa cứng (các thép góc ở cánh trên, cánh dưới, và hai bên bụng dầm) và liên kết cứng (cánh dầm được hàn trực tiếp vào cột và bụng dầm liên kết với cột bang thép góc).
Kết quả nghiên cứu cho thay khung nửa cứng có lực cắt đáy giảm nhưng chuyền vị ngang tăng so với trường hợp khung cứng. Các nghiên cứu lý thuyết về phân tích phi tuyến khung thép có liên kết nửa cứng chịu tải tĩnh và động: Chen và Lui (1986) [1] đề xuất một phương pháp phân tích dựa vào các phần tử hữu hạn để xác định lực và chuyển VỊ trong kết cấu có xét tới ảnh hưởng của phi tuyến hình học và phi tuyến liên kết. Elnashai Elgazhouli (1994) [3] nghiên cứu ứng xử của khung thép nửa cứng chịu tác dụng của động đất và kết luận răng khung thép nửa cứng có chuyền vị nhỏ hơn so với các mô hình mềm và cứng. Vì vậy, họ kết luận rằng các khung nửa cứng có xu hướng chịu được tác động động đất tốt hơn so với khung cứng hay khung mềm.
Barsanvà Chiorean (1996) [4] đã phát triển một chương trình phân tích có thể mô phỏng ứng xử của kết câu khung thép có xét tới ảnh hưởng bậc hai, ứng xử nửa cứng của liên kết dầm-cột và phi tuyến vật liệu. Chan và Chui (2000) [5] nghiên cứu ứng xử tĩnh và động cua mô hình dé xuất cua Vogel có xét tới ảnh hưởng phi tuyến hình học và phi tuyến liên kết và kết luận rằng khi chuyển vị và nội lực trong hệ kết cầu có xu hướng lớn hơn khi mô hình được tác dụng bởi hoạt tải với tần số kích thích nhỏ hơn. Đối với trường hợp các tần số kích thích băng tần số cơ bản của kết cau, mô hình này không xảy ra hiện tượng cộng hưởng. Sekulovic, Salatic và Nefovska (1999) [6] đã xây dựng một chương trình tinh toán dựa trên phương pháp phan tử hữu hạn dé phân tích nội lực và chuyền vị trong khung thép có kế đến ứng xử của phi tuyến hình học và phi tuyến liên kết.
Dé mô phỏng ứng xử của liên kêt dâm-cột trong hệ kêt cầu, nghiên cứu này đã đề xuât sử 6 dụng các liên kết lệch tâm bao gồm một phan tử lò xo có độ cứng vô han của thanh xoay. Kameshki va Saka (1999) [7] đã sử dung một thuật toán di truyén dé tối ưu hóa đường cong mômen-góc xoay của kết cấu thép và kết luận rằng hệ kết cau với các liên kết nửa cứng có xu hướng có trọng lượng ít hơn so với hệ có các liên kết mềm. Kim Seung-Eock và Se-Hyu Choi (2000) [8] đề xuất sử dụng mô hình liên kết của Kishi & Chen để mô phỏng ứng xử tĩnh của khung ba chiều có xét tới ứng xử phi tuyến hình học, liên kết đầm-cột va vật liệu. Keulen, Nethercot và Snijder (2003) [9] đã đánh giá ứng xử của liên kết nửa cứng theo phương pháp độ cứng cát tuyến và kết luận rằng phương pháp này là phù hợp dé đánh giá ứng xử phi tuyến của liên kết nửa cứng.
Castro cùng cộng sự (2005) [I0] đã nghiên cứu ảnh hưởng của liên kết nửa cứng trong ứng xử động của kết cau khung thép phăng và kết luận rang khung thép phang sử dụng liên kết dầm-cột có ứng xử phi tuyến có thé chịu được tải trọng tuần hoàn tốt hon. Silva cùng cộng sự (2005) [11] thực hiện một phân tích tham số để xác định ứng xử tĩnh của khung thép có tính đến ứng xử nửa cứng của liên kết dầm-cột. Trong đó, một mô hình lò xo thăng tuyến tính đã được sử dụng để mô phỏng liên kết dam-cét. Silva cùng cộng sự (2008) [12] đã nghiên cứu ứng xử tinh và động của công trình thép 4 tầng với ứng xử nửa cứng tuyến tính và phi tuyến của liên kết dam-cét (tuyến tính và phi tuyến) băng cách sử dụng phần mềm ANSYS 10.0, trong đó liên kết dầằm-côt được mô phòng bang phan tử lò xo xoay COMBIN39: nghiên cứu đã xác định ứng xử vòng trễ của liên kết dưới tác dụng của tải trọng động tuần hoàn băng mô hình ứng xử trễ với đường chất tải và dỡ tải theo đường tuyến tính song song (Hình I- la).
Trong luận văn này, tác giả sẽ nghiên cứu ứng xử vòng trễ theo mô hình đường cong Kishi-Chen [23] để có thể tiên đoán chính xác hơn ứng xử của hệ kết cầu (Hình I-1b). ———- loading ~~ “hy unloading Fig. Adopted hysteretic model. Mô hình tuyến tinh (Silva[12]) b.
Mô hình đường cong (Kishi-Chen[23]) Hình I-1.M6G hình ứng xử vòng tré của liên kết nửa cứng phi tuyến L2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam các nghiên cứu phân tích ứng xử của khung thép chịu tải trọng tĩnh và động có liên kết nửa cứng và có kế đến các ứng xử phi tuyến hình học và vật liệu chỉ mới được quan tâm nghiên cứu gần đây. Các nghiên cứu này cũng chỉ là phân tích lý thuyết chứ chưa có điều kiện để làm thí nghiệm. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Đoàn Tuyết Ngọc (2000) [13] xác định tý số giữa độ cứng nút và độ cứng thanh, sau đó sử dụng phương pháp chuyên vị truyền thống dé tìm chuyền vị va nội lực của phần tử dưới tác dụng của tải trọng. Trần Tuan Kiệt (2002) [14] xét đến liên kết nửa cứng thông qua việc đưa độ cứng tiếp tuyến của nó và áp dụng phương pháp hiệu chỉnh khớp dẻo.
Sau đó phân tích khung bằng phương pháp phân tích nâng cao để tìm nội lực và chuyền vị.