CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Giai đoạn sơ khai Khi nền kinh tế bắt đầu phát triển mạnh, vào cuối thế kỷ XIX, các doanh nghiệp phát triển như vũ bảo, sự quản lý trở nên ngày càng phức tạp, quyền cổ đông tách rời quyền quản lý thì các công ty kiểm toán ra đời phù hợp với xu thế lúc bấy giờ là kiểm tra lại tính trung thực và hợp lý thông tin trên báo cáo tài chính, là cơ sở để các nhà đầu tư, chủ nợ, ngân hàng có cái nhìn tổng quan về tình hình của doanh nghiệp. Khi thực hiện chức năng này, các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến kiểm soát nội bộ của công ty.
Thuật ngữ “Kiểm soát nội bô” bắt đầu được quan tâm đến. Năm 1905, Robert Montgomery, sáng lập viên của công ty kiểm toán Lybrand, Ross Bros & Montgomery, đã đưa ra ý kiến về kiểm soát nội bộ trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”. Năm 1929, Cục dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) đã công bố chính thức thuật ngữ “Kiểm soát nội bộ”. Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã đưa ra định nghĩa kiểm soát nội bộ.
Năm 1949, AICPA đã công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về kiểm soát nội bộ với nhan đề: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”. Như vậy, trong suốt thời kỳ trên, kiểm soát nội bộ đã không ngừng phát triển, tuy nhiên nó chỉ dừng lại ở mục đích phục vụ cho hoạt động của kiểm toán viên. Giai đoạn hình thành và phát triển AICPA đã soạn ra và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán liên quan đến những mặt khác nhau của kiểm soát nội bộ như SAP 29 (1958), SAP 33 (1962), SAP 54 (1972), SAS 1 (1973)… Vào những năm 70, 80 ở Hoa Kỳ, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thì các vụ gian lận cũng ngày càng gia tăng, quy mô ngày càng mở rộng, gây ảnh hưởng nặng nề đến nề kinh tế. Trước tình hình đó, năm 1979, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) bắt buộc các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở đơn vị mình.
Với các cách hiểu khác nhau về kiểm soát nội bộ đã tạo nên sự nhầm lẫn trong quá trình áp dụng dẫn đến nhiều vụ bê bối xảy ra trong doanh nghiệp. Các tranh luận cuối cùng dẫn tới việc thành lập Ủy ban COSO (Committee Of Sponsoring Organization) vào năm 1985. Đây là một ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính. Hội đồng này được thành lập dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức: AICPA (Hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ), AAA (Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ), FEI (Hiệp hội quản trị viên tài chính), IMA (Hiệp hội kế toán viên quản trị), IIA (Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ).
Năm 1992, sau 7 năm làm việc COSO đã ban hành báo cáo. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và hệ thống nhất. Thời kỳ hiện đại Sau báo cáo COSO 1992, hàng loạt các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ ở các lĩnh vực khác nhau ra đời như: CoBIT 1996, COSO 2004, COSO 2006, SAS 78 (1995)…. Năm 2008, COSO đưa ra dự thảo hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm nâng cao hiệu quả giám sát đối với KSNB trong đơn vị.
12 Năm 2013, COSO đã cập nhật lại khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ với 17 nguyên tắc nhằm hướng dẫn về quản trị rủi ro và biện pháp để giảm thiểu rủi ro, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của đơn vị.1: 17 nguyên tắc trong kiểm soát nội bộ Bộ phận Nguyên tắc 1. Thực hiện cam kết nhằm đảm bảo chính trực và giá trị đạo đức 2. Thực hiện trách nhiệm tổng thể Môi trường kiểm soát 3. Thiết lập cấu trúc quyền lực và trách nhiệm 4.
Thực thi cam kết về năng lực 5. Đảm bảo trách nhiệm giải trình 6. Các mục tiêu phù hợp và cụ thể 7. Xác định và phân tích rủi ro Đánh giá rủi ro 8.
Đánh giá rủi ro gian lận 9. Xác định và phân tích các thay đổi quan trọng 10. Lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát Hoạt động kiểm soát 11. Lựa chọn và phát triển các kiểm soát chung đối với công nghệ 12.
Ứng dụng chính sách và thủ tục 13. Sử dụng thông tin phù hợp Thông tin và truyền thông 14. Truyền thông nội bộ 15. Truyền thông bên ngoài đơn vị 16.
Thực hiện đánh giá liên tục và tách bạch Hoạt động kiểm soát 17. Đánh giá và tính truyền thông giữa các nội dung (Nguồn: tổng hợp của tác giả) 1. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Báo cáo COSO (2013) định nghĩa: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt các mục tiêu sau: - Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động 14 - Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính - Mụa tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định”. Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
Kiểm soát nội bộ là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt Một quá được mục tiêu của mình, từ việc lập kế hoạch đến thực trình hiện và giám sát hoạt động của đơn vị. Kiểm soát nội bộ chỉ là một công cụ cho nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế được nhà quản lý, vì mỗi cá Bị chi phối bởi con nhân tham gia vào tổ chức với khả năng, kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu khác nhau nên hệ thống kiểm soát nội người bộ chỉ có thể hữu hiệu khi các thành viên trong tổ chứ hiểu rõ về trách nhiệm và quyền hạn của mình. Kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp Đảm bảo lý cho các nhà quản trị trong việc đạt được các mục tiêu hợp lý của tổ chức chứ không thể đảm bảo một cách tuyệt đối. Mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
Các mục tiêu Mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp. Mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.1: Khái niệm kiểm soat nội bộ (2013) (Nguồn: tổng hợp của tác giả) Hoa kỳ là quốc gia có nền kinh tế phát triển và cũng là nơi xuất phát điểm đầu tiên của khái niệm về kiểm soát nội bộ, bên cạnh đó ngay bản thân trong quốc gia này cũng có nhiều quan điểm về kiểm soát nội bộ được đưa ra bởi các tổ chức khác nhau như COSO đưa ra khuôn mẫu về kiểm soát nội bộ; ISACA đưa ra COBIT (Control Objectives for Information and Related Technology); Viện các kiểm toán viên công chứng AICPA đưa ra SAS55, 78, 94 (Statements on Auditing 15 Standards); Viện kiểm toán viên nội bộ IIA đưa ra SAC (Auditabilityand Control). Bảng so sánh sau cho thấy sự tương đồng trong các nội dung về kiểm soát nội bộ do các tổ chức trên đưa ra: Bảng 1.2: So sánh các khái niệm về kiểm soát nội bộ tại Hoa Kỳ (nguồn: tổng hợp của tác giả) Thông qua việc so sánh trên chúng ta thấy các nội dung về kiểm soát nội bộ đưa ra bởi các tổ chức khá tương đồng với khuôn mẫu kiểm soát nội bộ của COSO. Chính vì vậy, trong luận văn này tác giả sẽ thống nhất sử dụng khuôn mẫu kiểm soát nội bộ theo COSO 2013 làm nền tảng cho các lý luận về kiểm soát nội bộ 16 Coso 2013 không chỉ phục vụ cho công tác tài chính kế toán như Coso 1992 mà còn mở rộng đối với phạm vi toàn doanh nghiệp.
Những thay đổi cơ bản của văn bản mới ban hành tập trung vào 7 điểm chính sau: - Tiếp cận theo hướng mong đợi vào việc quản trị công ty ở tầm vị mô. - Hướng tới sự toàn cầu hóa của thị trường và hoạt động kinh doanh mở rộng. - Sự thay đổi trong mô hình kinh doanh phù hợp với biến động của thế giới. - Đáp ứng nhu cầu, mức độ phức tạp, quy định và các chuẩn mực.
- Tăng các chiến lược cạnh tranh và trách nhiệm giải trình trước xã hội. - Thay đổi quan trọng nhất trong báo cáo COSO 2013 là đã chỉ rõ 17 nguyên tắc đại diện cho các khái niệm cơ bản liên kết với 5 thành phần của KSNB 1. Vai trò của kiểm soát nội bộ Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính của công ty Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với công ty do bên thứ 3 hoặc nhân viên gây ra Giảm bớt rủi ro sai sót do vô ý có thể gây ra tổn hại cho công ty Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của công ty Ngăn chặn tiếp xúc với những rủi ro không cần thiết do quản lý rủi ro chưa đầy đủ 1. Các bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB 1.
Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát là những yếu tố chi phối hoạt động của các thành viên trong đơn vị. Một môi trường kiểm soát tốt là nền tảng quan trọng cho toàn bộ các thành phần của hệ thống KSNB. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến mọi hoạt động của một đơn vị, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB. Môi trường kiểm soát bao gồm sự trung thực và giá trị đạo đức của tổ chức; các cam kết về năng lực và chính sách nhân sự; Hội đồng quản trị và ban kiểm soát của công ty; Cơ cấu tổ chức và phân công quyền hạn và trách nhiệm của 17 công ty.
Theo COSO 2013, Môi trường kiểm soát gồm các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc 1: Đơn vị chứng minh các cam kết về tính trung thực và giá trị đạo đức. Điều này thể hiện rằng người quản lý phải chứng tỏ đơn vị quan tâm đến tính trung thực và đạo đức.