TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

Chuyên khảo luật học phân tích Trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp r ntheo pháp luật việt nam thực trạng và kiến r nnghị, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

51
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan về người quản lý và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp

1.2. Khái niệm người quản lý doanh nghiệp

1.3. Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp

1.4. Trách nhiệm người quản lý doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

1.4.1. Trách nhiệm pháp lý trong trường hợp người quản lý doanh nghiệp vi phạm

1.4.2. Bị miễn nhiệm, bãi nhiệm

1.4.3. Trách nhiệm dân sự

1.4.4. Trách nhiệm hành chính

1.4.5. Trách nhiệm hình sự

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

2.1. Một số bất cập trong quy định về người quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp và trách nhiệm pháp lý của người quản lý

2.2. Quy định về khái niệm người quản lý doanh nghiệp

2.3. Trách nhiệm trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp tối đa của công ty

2.4. Trách nhiệm trung thành với lợi ích của công ty và chủ sở hữu công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, không lạm dụng địa vụ, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác

2.5. Trách nhiệm pháp lý của người quản lý doanh nghiệp – Trách nhiệm dân sự

2.6. Một số kiến nghị nhằm nâng cao trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp

2.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Trách Nhiệm Của Người Quản Lý Doanh Nghiệp

Quản lý doanh nghiệp là quá trình phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do đó, người quản lý doanh nghiệp đóng vai trò then chốt, gánh vác nhiều trách nhiệm quan trọng. Việc xác định chính xác người quản lý sẽ giúp quy định rõ ràng các nghĩa vụ pháp lý, góp phần vào quản trị hiệu quả, bảo vệ quyền lợi cổ đông và các bên liên quan. Cần hiểu rõ khái niệm về người quản lý doanh nghiệp. Dưới góc độ kinh tế, họ là những người hoạch định chiến lược, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát mọi hoạt động, tối ưu hóa nguồn lực để mang lại lợi ích tối đa. Từ góc độ quản lý, người quản lý doanh nghiệp được chia thành các cấp bậc: cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở, mỗi cấp đảm nhận những vai trò và trách nhiệm khác nhau trong việc điều hành và kiểm soát doanh nghiệp.

1.1. Khái Niệm Người Quản Lý Doanh Nghiệp Các Định Nghĩa

Dưới góc độ kinh tế, người quản lý doanh nghiệp là những người quản lý, hoạch định các chiến lược, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát và điều hành mọi việc trong công ty như tài chính, con người, cơ sở vật chất, các vấn đề pháp lý một cách có tối ưu và có hiệu quả để mang lại nhiều lợi ích cho công ty. Dưới góc độ quản lý, người quản lý doanh nghiệp thường được chia thành ba cấp bậc: Người quản lý cấp cao, Người quản lý cấp trung, Người quản lý cấp cơ sở. Pháp luật của các quốc gia định nghĩa về người quản lý doanh nghiệp một cách khác nhau. Ví dụ, theo từ điển luật học năm 2003 thì người quản lý doanh nghiệp là cá nhân đóng vai trò đại diện cho công ty, họ có vai trò giám sát, quản lý, điều hành các hoạt động hàng ngày của công ty, thực hiện nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông và doanh nghiệp.

1.2. Nghĩa Vụ Của Người Quản Lý Doanh Nghiệp Phân Tích Chi Tiết

Theo luật Úc, người quản lý doanh nghiệp (director) được quy định tại Điều 9 Luật Công ty 2001. Pháp luật nước Úc không liệt kê các chức danh nào được xem là người quản lý doanh nghiệp mà đưa ra định nghĩa về vai trò và công việc thực tế của một cá nhân, từ đó để xác định đúng chủ thể là Giám đốc/Người quản lý doanh nghiệp. Tương tự như cách tiếp cận của pháp luật Úc, Luật Anh- Mỹ cũng không liệt các chức danh người quản lý doanh nghiệp mà người quản lý doanh nghiệp được định nghĩa theo công việc thực tế mà họ đang hành động và chia thành ba nhóm đối tượng. Như vậy, với cách tiếp cận này thì người quản lý doanh nghiệp không nhất thiết phải giữ chức danh quản lý trong công ty.

1.3. So Sánh Khái Niệm Người Quản Lý Việt Nam Và Thế Giới

Khác với luật Úc, Anh, Mỹ, pháp luật Việt Nam quy định về khái niệm người quản lý doanh nghiệp theo phương pháp liệt kê các chức danh quản lý trong công ty. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, một cá nhân được coi là người quản lý doanh nghiệp cần đáp ứng hai điều kiện là (i) giữ chức danh quản lý trong công ty và (ii) có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết các hợp đồng hoặc giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ công ty. Điều này có nghĩa là, dù có tham gia quản lý nhưng không đáp ứng đủ hai điều kiện trên thì không được xem là người quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014.

II. Thực Trạng Trách Nhiệm Pháp Lý Của Quản Lý Tại Việt Nam

Vụ việc tập đoàn Enron sụp đổ do Giám đốc điều hành (CEO) Jeffrey Skilling có hành vi không trung thực, làm giả báo cáo tài chính quý, năm về những dự án, thương vụ để vụ lợi cho bản thân. Khi vụ việc vỡ lở, toà án đã kết tội Skilling đã vi phạm trách nhiệm trung thành với lợi ích công ty và những người cấu kết với ông phải lĩnh án tù. Từ vụ việc đó, trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp càng được chú trọng hơn trong bất kì hệ thống pháp luật các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, khi các doanh nghiệp nhận thấy rằng trách nhiệm của nhà quản lý doanh nghiệp là một trong yếu tố quan trọng để giúp cho hoạt động quản trị công ty trở nên hiệu quả. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam còn quy định khá chung chung về trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp.

2.1. Quy Định Pháp Luật Về Trách Nhiệm Của Người Quản Lý Doanh Nghiệp

Trong thập niên 1990, thế giới đã từng chấn động trước sự sụp đỗ của tập đoàn Enron – một tập đoàn lớn chuyên kinh doanh về khí tự nhiên lớn nhất Bắc Mỹ. Khi cái tên Enron phá sản đã làm cho nhiều nhà đầu tư mất trắng hơn hàng tỷ đô la, hơn 20.000 nhân viên thất nghiệp, nền kinh tế lúc bấy giờ lâm vào trình trạng khủng hoảng. Nguyên nhân chính khiến cho một tập đoàn hùng mạnh lại phá sản nhanh như vậy chính là do Jeffrey Skilling - Giám đốc điều hành (CEO) của Enron đã có hành vi không trung thực, làm giả báo cáo tài chính quý, năm về những dự án, thương vụ để vụ lợi cho bản thân.

2.2. Bất Cập Trong Quy Định Về Trách Nhiệm Dân Sự Của Người Quản Lý

Một số bất cập trong quy định về người quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp và trách nhiệm pháp lý của người quản lý. Ví dụ, quy định về khái niệm người quản lý doanh nghiệp. Cụ thể là các quy định này được quy định một cách sơ sài, dẫn đến hầu hết các quy định chỉ mang tính hình thức và chưa được thi hành một cách tối ưu trên thực tế. Vì vậy, những nhà quản lý doanh nghiệp có ý định gian dối hay có mưu tính tư lợi cho bản thân có thể dựa vào những kẻ hở này mà dễ dàng trót lọt hành vi của mình một cách hợp pháp.

2.3. Hạn Chế Trong Thực Thi Trách Nhiệm Hình Sự Của Người Quản Lý

Điều này dẫn đến nhiều hạn chế trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp, các thành viên và cổ đông công ty khi người quản lý doanh nghiệp vi phạm các trách nhiệm của mình. Trong bối cảnh như vậy, tác giả mong muốn bày tỏ rõ quan điểm của mình về sự quan trọng của trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp, đồng thời trình bày các hạn chế và kiến nghị những giải pháp để giải quyết các tồn đọng này.

III. Giải Pháp Nâng Cao Trách Nhiệm Quản Lý Doanh Nghiệp Tại VN

Để nâng cao trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, cần có một hệ thống giải pháp toàn diện, bao gồm cả sửa đổi luật pháp và các biện pháp thực tiễn. Điều này bao gồm việc quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của từng chức danh quản lý, tăng cường chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm, và nâng cao nhận thức về đạo đức kinh doanh trong giới quản lý.

3.1. Sửa Đổi Luật Doanh Nghiệp Về Trách Nhiệm Người Quản Lý

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Doanh nghiệp để làm rõ hơn về khái niệm người quản lý doanh nghiệp, phân định rõ quyền hạnnghĩa vụ của từng chức danh. Đồng thời, cần bổ sung các quy định về trách nhiệm liên đới của các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên trong trường hợp vi phạm.

3.2. Tăng Cường Kiểm Tra Giám Sát Hoạt Động Quản Trị Doanh Nghiệp

Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các hoạt động có nguy cơ cao gây thiệt hại cho doanh nghiệp và cổ đông. Đồng thời, cần có cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh về các hành vi vi phạm của người quản lý.

3.3. Nâng Cao Nhận Thức Về Đạo Đức Kinh Doanh Cho Quản Lý

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về đạo đức kinh doanh cho người quản lý, giúp họ nhận thức rõ về vai trò và trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp, cổ đông và xã hội. Đồng thời, cần xây dựng văn hóa doanh nghiệp đề cao tính trung thực, minh bạchtrách nhiệm.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Nghiên Cứu Về Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp

Nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) cho thấy rằng, các doanh nghiệp thực hiện tốt CSR thường có hiệu quả kinh doanh tốt hơn và uy tín cao hơn. Người quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình CSR, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và xã hội.

4.1. Trách Nhiệm Xã Hội CSR Trong Quản Trị Doanh Nghiệp

CSR không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp. Người quản lý cần xem xét các tác động của hoạt động kinh doanh đến môi trường, cộng đồng và người lao động, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp.

4.2. Lợi Ích Của Việc Thực Hiện Trách Nhiệm Xã Hội CSR

Thực hiện CSR không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, thu hút đầu tư mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh, tăng cường sự gắn kết của nhân viên và cải thiện mối quan hệ với các bên liên quan.

4.3. Vai Trò Của Người Quản Lý Trong CSR Của Doanh Nghiệp

Người quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược CSR, triển khai các chương trình, đánh giá hiệu quả và báo cáo kết quả cho các bên liên quan.

V. Kết Luận Quản Trị Doanh Nghiệp Bền Vững Tại Việt Nam

Nâng cao trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp là yếu tố then chốt để xây dựng một nền kinh tế thị trường minh bạch, hiệu quả và bền vững tại Việt Nam. Việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường kiểm tra, giám sát và nâng cao nhận thức về đạo đức kinh doanh là những bước đi quan trọng để đạt được mục tiêu này.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Quản Trị Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế

Quản trị doanh nghiệp hiệu quả không chỉ giúp doanh nghiệp phát triển mà còn góp phần vào sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.

5.2. Yếu Tố Thành Công Của Quản Trị Doanh Nghiệp Bền Vững

Các yếu tố quan trọng bao gồm: khung pháp lý minh bạch, hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, đội ngũ người quản lý có năng lực và đạo đức, và sự tham gia tích cực của cổ đông.

5.3. Hướng Đi Tương Lai Cho Quản Trị Doanh Nghiệp Việt Nam

Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế, hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế để xây dựng một nền kinh tế thị trường hiện đại và bền vững.

23/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về người quản lý và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp 1.1 Khái niệm người quản lý doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp là thực hiện công việc quản trị, hoạch định, triển khai, kiểm tra – giám sát hoạt động của công ty, sử dụng nguồn vốn, nguồn nhân lực của công ty để thực hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp đó đã đề ra ở từng giai đoạn. Do đó, quản lý doanh nghiệp là một quá trình phức tạp và ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình hoạt động cũng như phát triển của công ty đó. Cũng vì thế mà người quản lý doanh nghiệp có vị trí vô cùng quan trọng và đảm đương rất nhiều trách nhiệm. Việc xác định đúng chủ thể nào là người quản lý công ty sẽ giúp đề ra một cách hợp lý các trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý, góp phần giúp cho việc quản trị công ty hiệu quả hơn, đảm bảo quyền lợi cho cổ đông và các bên liên quan khác như chủ nợ, người lao động và khách hàng của công ty.

Để có thể hiểu rõ và xác định được ai là người quản lý doanh nghiệp, trước hết cần phải hiểu rõ khái niệm về người quản lý doanh nghiệp (Enterprise managers). Dưới góc độ kinh tế, người quản lý doanh nghiệp là những người quản lý, hoạch định các chiên lước, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát và điều hành mọi việc trong công ty như tài chính, con người, cơ sở vật chất, các vấn đề pháp lý một cách có tối ưu và có hiệu quả để mang lại nhiều lợi ích cho công ty. Dưới góc độ quản lý, người quản lý doanh nghiệp thường được chia thành ba cấp bậc:2 - Người quản lý cấp cao: là nhóm nhỏ các nhà quản lý ở cấp bậc tối cao trong tổ chức, chịu trách nhiệm về thành quả cuối cùng trong công ty. Họ sẽ là những người đưa ra các chiến lược, mục tiêu, chích sách của công ty.

- Người quản lý cấp trung: là một khái niệm khá rộng dùng để chỉ những cấp chỉ huy trung gian (trên họ và dưới họ còn có những nhà quản lý khác). Đây 2 Người quản lý doanh nghiệp – Khái niệm và vai trò thời 4.com/vi/nguoi-quan- ly-doanh-nghiep/>, xem 20. 7 là nhóm quản lý sẽ triển khai các chiến lược và kiểm soát hoạt động của nhà quản lý cấp cơ sở. - Người quản lý cấp cơ sở: là những nhà quản lý ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc quản lý.

Nhóm người quản lý cấp cơ sở sẽ phối hợp và kiểm soát hoạt động của nhân viên thừa hành. Dưới góc độ luật học, khái niệm “Người quản lý doanh nghiệp” được quy định khác nhau trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Theo từ điển luật học năm 2003 thì người quản lý doanh nghiệp là cá nhân đóng vai trò đại diện cho công ty, họ có vai trò giám sát, quản lý, điều hành các hoạt động hàng ngày của công ty, thực hiện nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông và doanh nghiệp.3 Theo luật Úc, Người quản lý doanh nghiệp (director) được quy định tại Điều 9 Luật Công ty 20014 như sau: (i) một cá nhân được bổ nhiệm một cách hợp lệ sẽ là Giám đốc hoặc Giám đốc luân phiên; (ii) một cá nhân mặc dù không được bổ nhiệm với chức danh Giám đốc nhưng cá nhân đó thực hiện nhiệm vụ tại vị trí của một Giám đốc thì sẽ đương nhiên được xem là Giám đốc (Giám đốc thực tế - De factor Director); (iii) một cá nhân mặc dù không được bổ nhiệm hợp lệ là Giám đốc nhưng các Giám đốc khác đều luôn làm việc theo sự chỉ thị hoặc theo mong muốn của người này thì cá nhân này vẫn được xem là Giám đốc (Giám đốc giấu mặt – Sadow Director). Có thể thấy, pháp luật nước Úc không liệt kê các chức danh nào được xem là người quản lý doanh nghiệp mà đưa ra định nghĩa về vai trò và công việc thực tế của một cá nhân, từ đó để xác định đúng chủ thể là Giám đốc/Người quản lý doanh nghiệp.

Tương tự như cách tiếp cận của pháp luật Úc, Luật Anh- Mỹ cũng không liệt các chức danh người quản lý doanh nghiệp mà người quản lý doanh nghiệp được định 3 Black’s Law Dictionary Third Edition, <https://thelawdictionary.2021 4 Article 9 Corporation Act 2001 (Australia), <http://www5.au/au/legis/cth/consol_ac t/ca2001172/>, xem 21.2021 8 nghĩa theo công việc thực tế mà họ đang hành động và chia thành ba nhóm đối tượng như sau: Nhóm thứ nhất, cá nhân được chỉ định và bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp (De jure). Đây là cách thức phổ biến nhất hiện nay. Cá nhân được bổ nhiệm với chức danh là người quản lý theo cách này thường hợp pháp và không vấp phải sự phản đối từ những người khác. Nhóm thứ hai, cá nhân không được trực tiếp bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp nhưng lại được phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và đang hành động giống như người quản lý doanh nghiệp.

Luật Anh-Mỹ gọi nhóm đối tượng này “người quản lý doanh nghiệp thực tế”. Đối với nhóm đối tượng này, tuy họ không được bổ nhiệm chức danh “nhà quản lý doanh nghiệp” một cách hợp pháp nhưng trên thực tế họ vẫn đã và đang thực hiện công việc như đúng một người quản lý doanh nghiệp, vì vậy họ vẫn được xem là người quản lý doanh nghiệp thực tế của công ty. Có rất nhiều lý do để một cá nhân không được bổ nhiệm một cách chính thức như hết thời hạn làm việc theo quyết định bổ nhiệm của công ty, theo hợp đồng lao động,…Ví dụ như người quản lý doanh nghiệp khi hết nhiệm kỳ quy định theo điều lệ công ty mà công ty chưa chỉ định được người quản lý mới, trên thực tế, cá nhân này vẫn tiếp tục thực hiện trách nhiệm của người quản lý. Trong trường hợp này, họ vẫn bị ràng buộc các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm với công ty, trước pháp luật bởi các hành động và quyết định của mình.

Nhóm thứ ba là những cá nhân mà chỉ thị, quyết định của họ được thực hiện bởi người quản lý doanh nghiệp hợp pháp (hay được là người quản lý giấu mặt – Shadow Director). Những người này trên thực tế họ không phải là người quản lý doanh nghiệp, tuy nhiên họ lại có những quyền hạn nhất định để đưa ra các quyết định, chỉ thị trong công ty và các quyết định, chỉ thị từ nhóm đối tượng này sẽ được thực hiện bởi người quản lý doanh nghiệp. Đối với nhóm đối tượng này, quy định này được xem là cơ sở quan trọng để thâu tóm những cá nhân có hành vi lợi dụng để 9 thực hiện những hành vi sai trái, trốn tránh trách nhiệm, cụ thể là đẩy trách nhiệm cho người quản lý doanh nghiệp hợp pháp. Như vậy, với cách tiếp cận này thì người quản lý doanh nghiệp không nhất thiết phải giữ chức danh quản lý trong công ty.

Trong hoạt động xét xử của Úc, Anh, Mỹ, Toà án xác định ai là người quản lý doanh nghiệp dựa theo chức năng, công việc mà người đó thực hiện chứ không phải chỉ dựa theo chức danh mà họ đang đảm nhiệm. Khác với luật Úc, Anh, Mỹ, pháp luật Việt Nam quy định về khái niệm người quản lý doanh nghiệp theo phương pháp liệt kê các chức danh quản lý trong công ty. Đầu tiên, khái niệm này lần đầu được quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 1999: “Người quản lý doanh nghiệp" là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), các chức danh quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Đến năm 2005, khái niệm này được các nhà làm luật chỉnh sửa và được ghi nhận tại khoản 13 Điều 4 Luật Doanh Nghiệp năm 2005: “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định.” Sau đó, khái niệm này một lần nữa được ghi nhận tại khoản 4 Điều 2 Nghị định 71/2017/NĐ – CP và đồng thời đã được các nhà làm luật chỉnh sửa, bổ sung tại khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 với nội dung như sau:“Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.” Theo quy định này, về cơ bản một cá nhân để được coi là người quản lý doanh nghiệp cần đáp ứng hai điều kiện là (i) giữ 10 chức danh quản lý trong công ty và (ii) có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết các hợp đồng hoặc giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ công ty5.

Công ty cũng có thể có nhiều người khác tham gia quản lý công ty nhưng nếu không đáp ứng đủ hai điều kiện cơ bản về chức danh và thẩm quyền thì không được xem là “người quản lý doanh nghiệp” theo Luật Doanh nghiệp 2014. Thêm vào đó, các phó (tổng) Giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng,… là các chức danh trực tiếp điều hành, quản lý hoạt động công ty nhưng không được liệt kê trong điều luật nên họ không được xem là người quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 trừ trường hợp điều lệ công ty quy định họ là người có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết hợp đồng, giao dịch của công ty. Đồng thời, cá nhân giữ các chức danh quản lý nêu trên sẽ phải chịu các trách nhiệm liên quan đến trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp. Đến năm 2020, khái niệm người quản lý doanh nghiệp không được các nhà lập pháp giữ nguyên mà vẫn tiếp tục được chỉnh sửa cho phù hợp hơn với giai đoạn nền kinh tế và pháp luật hiện giờ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bạn đang tìm hiểu về trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam? Bài viết "Trách Nhiệm của Người Quản Lý Doanh Nghiệp tại Việt Nam: Thực Trạng và Giải Pháp SEO" sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về những nghĩa vụ pháp lý, đạo đức và xã hội mà người quản lý phải đối mặt. Bài viết đi sâu vào thực trạng, phân tích những thách thức và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời tối ưu hóa SEO để tăng khả năng tiếp cận thông tin này đến nhiều người hơn.

Để hiểu rõ hơn về cách quản trị rủi ro hiệu quả trong một doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm bài viết: "Luận văn hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty tnhh osco international". Nếu bạn quan tâm đến việc tái cấu trúc doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con, đừng bỏ lỡ bài viết: "Luận văn bước đi và các giải pháp chủ yếu để chuyển vietsovpetro sang mô hình công ty mẹ công ty con". Cuối cùng, nếu bạn muốn tìm hiểu cách ứng dụng BSC và KPI để quản lý hiệu suất, bài viết: "Luận văn thạc sĩ ứng dụng bsc và kpi tại công ty cổ phần winning co thời trang format" sẽ cung cấp những thông tin hữu ích. Mỗi liên kết là một cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của quản lý doanh nghiệp.