CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về người quản lý và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp 1.1 Khái niệm người quản lý doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp là thực hiện công việc quản trị, hoạch định, triển khai, kiểm tra – giám sát hoạt động của công ty, sử dụng nguồn vốn, nguồn nhân lực của công ty để thực hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp đó đã đề ra ở từng giai đoạn. Do đó, quản lý doanh nghiệp là một quá trình phức tạp và ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình hoạt động cũng như phát triển của công ty đó. Cũng vì thế mà người quản lý doanh nghiệp có vị trí vô cùng quan trọng và đảm đương rất nhiều trách nhiệm. Việc xác định đúng chủ thể nào là người quản lý công ty sẽ giúp đề ra một cách hợp lý các trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý, góp phần giúp cho việc quản trị công ty hiệu quả hơn, đảm bảo quyền lợi cho cổ đông và các bên liên quan khác như chủ nợ, người lao động và khách hàng của công ty.
Để có thể hiểu rõ và xác định được ai là người quản lý doanh nghiệp, trước hết cần phải hiểu rõ khái niệm về người quản lý doanh nghiệp (Enterprise managers). Dưới góc độ kinh tế, người quản lý doanh nghiệp là những người quản lý, hoạch định các chiên lước, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát và điều hành mọi việc trong công ty như tài chính, con người, cơ sở vật chất, các vấn đề pháp lý một cách có tối ưu và có hiệu quả để mang lại nhiều lợi ích cho công ty. Dưới góc độ quản lý, người quản lý doanh nghiệp thường được chia thành ba cấp bậc:2 - Người quản lý cấp cao: là nhóm nhỏ các nhà quản lý ở cấp bậc tối cao trong tổ chức, chịu trách nhiệm về thành quả cuối cùng trong công ty. Họ sẽ là những người đưa ra các chiến lược, mục tiêu, chích sách của công ty.
- Người quản lý cấp trung: là một khái niệm khá rộng dùng để chỉ những cấp chỉ huy trung gian (trên họ và dưới họ còn có những nhà quản lý khác). Đây 2 Người quản lý doanh nghiệp – Khái niệm và vai trò thời 4.com/vi/nguoi-quan- ly-doanh-nghiep/>, xem 20. 7 là nhóm quản lý sẽ triển khai các chiến lược và kiểm soát hoạt động của nhà quản lý cấp cơ sở. - Người quản lý cấp cơ sở: là những nhà quản lý ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc quản lý.
Nhóm người quản lý cấp cơ sở sẽ phối hợp và kiểm soát hoạt động của nhân viên thừa hành. Dưới góc độ luật học, khái niệm “Người quản lý doanh nghiệp” được quy định khác nhau trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Theo từ điển luật học năm 2003 thì người quản lý doanh nghiệp là cá nhân đóng vai trò đại diện cho công ty, họ có vai trò giám sát, quản lý, điều hành các hoạt động hàng ngày của công ty, thực hiện nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông và doanh nghiệp.3 Theo luật Úc, Người quản lý doanh nghiệp (director) được quy định tại Điều 9 Luật Công ty 20014 như sau: (i) một cá nhân được bổ nhiệm một cách hợp lệ sẽ là Giám đốc hoặc Giám đốc luân phiên; (ii) một cá nhân mặc dù không được bổ nhiệm với chức danh Giám đốc nhưng cá nhân đó thực hiện nhiệm vụ tại vị trí của một Giám đốc thì sẽ đương nhiên được xem là Giám đốc (Giám đốc thực tế - De factor Director); (iii) một cá nhân mặc dù không được bổ nhiệm hợp lệ là Giám đốc nhưng các Giám đốc khác đều luôn làm việc theo sự chỉ thị hoặc theo mong muốn của người này thì cá nhân này vẫn được xem là Giám đốc (Giám đốc giấu mặt – Sadow Director). Có thể thấy, pháp luật nước Úc không liệt kê các chức danh nào được xem là người quản lý doanh nghiệp mà đưa ra định nghĩa về vai trò và công việc thực tế của một cá nhân, từ đó để xác định đúng chủ thể là Giám đốc/Người quản lý doanh nghiệp.
Tương tự như cách tiếp cận của pháp luật Úc, Luật Anh- Mỹ cũng không liệt các chức danh người quản lý doanh nghiệp mà người quản lý doanh nghiệp được định 3 Black’s Law Dictionary Third Edition, <https://thelawdictionary.2021 4 Article 9 Corporation Act 2001 (Australia), <http://www5.au/au/legis/cth/consol_ac t/ca2001172/>, xem 21.2021 8 nghĩa theo công việc thực tế mà họ đang hành động và chia thành ba nhóm đối tượng như sau: Nhóm thứ nhất, cá nhân được chỉ định và bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp (De jure). Đây là cách thức phổ biến nhất hiện nay. Cá nhân được bổ nhiệm với chức danh là người quản lý theo cách này thường hợp pháp và không vấp phải sự phản đối từ những người khác. Nhóm thứ hai, cá nhân không được trực tiếp bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp nhưng lại được phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và đang hành động giống như người quản lý doanh nghiệp.
Luật Anh-Mỹ gọi nhóm đối tượng này “người quản lý doanh nghiệp thực tế”. Đối với nhóm đối tượng này, tuy họ không được bổ nhiệm chức danh “nhà quản lý doanh nghiệp” một cách hợp pháp nhưng trên thực tế họ vẫn đã và đang thực hiện công việc như đúng một người quản lý doanh nghiệp, vì vậy họ vẫn được xem là người quản lý doanh nghiệp thực tế của công ty. Có rất nhiều lý do để một cá nhân không được bổ nhiệm một cách chính thức như hết thời hạn làm việc theo quyết định bổ nhiệm của công ty, theo hợp đồng lao động,…Ví dụ như người quản lý doanh nghiệp khi hết nhiệm kỳ quy định theo điều lệ công ty mà công ty chưa chỉ định được người quản lý mới, trên thực tế, cá nhân này vẫn tiếp tục thực hiện trách nhiệm của người quản lý. Trong trường hợp này, họ vẫn bị ràng buộc các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm với công ty, trước pháp luật bởi các hành động và quyết định của mình.
Nhóm thứ ba là những cá nhân mà chỉ thị, quyết định của họ được thực hiện bởi người quản lý doanh nghiệp hợp pháp (hay được là người quản lý giấu mặt – Shadow Director). Những người này trên thực tế họ không phải là người quản lý doanh nghiệp, tuy nhiên họ lại có những quyền hạn nhất định để đưa ra các quyết định, chỉ thị trong công ty và các quyết định, chỉ thị từ nhóm đối tượng này sẽ được thực hiện bởi người quản lý doanh nghiệp. Đối với nhóm đối tượng này, quy định này được xem là cơ sở quan trọng để thâu tóm những cá nhân có hành vi lợi dụng để 9 thực hiện những hành vi sai trái, trốn tránh trách nhiệm, cụ thể là đẩy trách nhiệm cho người quản lý doanh nghiệp hợp pháp. Như vậy, với cách tiếp cận này thì người quản lý doanh nghiệp không nhất thiết phải giữ chức danh quản lý trong công ty.
Trong hoạt động xét xử của Úc, Anh, Mỹ, Toà án xác định ai là người quản lý doanh nghiệp dựa theo chức năng, công việc mà người đó thực hiện chứ không phải chỉ dựa theo chức danh mà họ đang đảm nhiệm. Khác với luật Úc, Anh, Mỹ, pháp luật Việt Nam quy định về khái niệm người quản lý doanh nghiệp theo phương pháp liệt kê các chức danh quản lý trong công ty. Đầu tiên, khái niệm này lần đầu được quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 1999: “Người quản lý doanh nghiệp" là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), các chức danh quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Đến năm 2005, khái niệm này được các nhà làm luật chỉnh sửa và được ghi nhận tại khoản 13 Điều 4 Luật Doanh Nghiệp năm 2005: “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định.” Sau đó, khái niệm này một lần nữa được ghi nhận tại khoản 4 Điều 2 Nghị định 71/2017/NĐ – CP và đồng thời đã được các nhà làm luật chỉnh sửa, bổ sung tại khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 với nội dung như sau:“Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.” Theo quy định này, về cơ bản một cá nhân để được coi là người quản lý doanh nghiệp cần đáp ứng hai điều kiện là (i) giữ 10 chức danh quản lý trong công ty và (ii) có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết các hợp đồng hoặc giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ công ty5.
Công ty cũng có thể có nhiều người khác tham gia quản lý công ty nhưng nếu không đáp ứng đủ hai điều kiện cơ bản về chức danh và thẩm quyền thì không được xem là “người quản lý doanh nghiệp” theo Luật Doanh nghiệp 2014. Thêm vào đó, các phó (tổng) Giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng,… là các chức danh trực tiếp điều hành, quản lý hoạt động công ty nhưng không được liệt kê trong điều luật nên họ không được xem là người quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 trừ trường hợp điều lệ công ty quy định họ là người có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết hợp đồng, giao dịch của công ty. Đồng thời, cá nhân giữ các chức danh quản lý nêu trên sẽ phải chịu các trách nhiệm liên quan đến trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp. Đến năm 2020, khái niệm người quản lý doanh nghiệp không được các nhà lập pháp giữ nguyên mà vẫn tiếp tục được chỉnh sửa cho phù hợp hơn với giai đoạn nền kinh tế và pháp luật hiện giờ.