Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng suất lao động trong doanh nghiệp; Chương 2: Thực trạng hoạt động cải tiến gia tăng năng suất lao động tại Công ty Cổ phần Sản xuất Thiết bị điện Công nghiệp Cát Vạn Lợi; Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cải tiến gia tăng năng suất lao động tại Công ty Cổ phần Sản xuất Thiết bị điện Công nghiệp Cát Vạn Lợi. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Năng suất lao động NSLĐ là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả SX) với lao động để SX ra nó.
NSLĐ thường được dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia, đặc biệt NSLĐ phản ánh yếu tố chất lượng NLĐ - yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay. Năng suất có thể được đo lường ở các cấp độ khác nhau: Cấp độ cả nền kinh tế, cấp độ ngành, tổ chức, DN hay cho từng cá nhân riêng biệt. Trên cơ sở đó, khái niệm NSLĐ cũng được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau: Theo Karl Marx (1960): “NSLĐ là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích”. Nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định.
Hay nói cách khác, NSLĐ được đo bằng số đơn vị sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đó. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (2001): “NSLĐ là tỷ lệ giữa đầu ra trên đầu vào, trong đó đầu ra được tính bằng tổng sản phẩm quốc nội – GDP hoặc tổng giá trị gia tăng – GVA, đầu vào thường được tính bằng giờ công lao động và số lao động đang làm việc”. Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008): “NSLĐ là hiệu quả hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian. Năng suất lao động được đo bằng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm”.
Nguyễn Đình Phan (2009), dịch theo từ điển kinh tế học hiện đại của MIT (Mỹ), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội: “Năng suất là đầu ra trên một 11 đơn vị đầu vào được sử dụng. Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả của các bộ phận vốn, lao động. Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu ra thực tế, nhưng rất ít khi tách riêng biệt được NSLĐ của nguồn vốn và lao động”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (2014): “Năng suất không phải là tất cả nhưng trong dài hạn nó quyết định mọi việc.
Năng lực cải thiện mức sống của một quốc gia gần như phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tăng năng suất của mỗi người lao động”. Syverson (2011) năng suất là hiệu quả trong sản xuất thể hiện qua có bao nhiêu sản lượng thu được từ một loại đầu vào nhất định. Do đó, nó thường được biểu thị dưới dạng tỷ lệ đầu vào của đầu ra. Có nhiều phương pháp đo lường năng suất, trong đó NSLĐ là một trong những tiêu chí được sử dụng nhiều nhất.
Theo đó, năng suất lao động khai thác mức độ mà vốn nhân lực mang lại giá trị cho nền kinh tế hay doanh nghiệp (Koch và McGrath, 1996). Từ các quan điểm nêu trên, có thể hiểu: NSLĐ là tỷ lệ giữa đầu ra trên đầu vào, trong đó đầu ra được tính bằng giá trị tổng sản lượng hoặc doanh thu, và đầu vào là tổng chi phí (bao gồm chi phí lao động). Trong các tổ chức hay doanh nghiệp hiện nay, NSLĐ là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của tổ chức, doanh nghiệp đó. NSLĐ được quyết định bởi nhiều yếu tố như: Trình độ thành thạo của người lao động, áp dụng khoa học công nghệ, quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất cũng như điều kiện tự nhiên…NSLĐ là một trong những chỉ tiêu quan trọng tác động đến sự cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt NSLĐ phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triển.
Cải tiến Tháng 11 năm 1986, Masaaki Imai xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Anh với tựa đề Kaizen. Độc giả phương Tây rất bỡ ngỡ với thuật ngữ lạ lẫm này. Tuy nhiên, nó đã tác động mạnh mẽ đến phương thức quản lý và kinh 12 doanh trên toàn thế giới. Theo Masaaki Imai, Kaizen nghĩa là cải tiến, đặc biệt là cải tiến liên tục (Kai – liên tục; Zen – cải tiến).
Cải tiến Kaizen hoàn toàn khác với đổi mới – một dạng cải tiến mà người Phương tây vẫn quen dùng. Đổi mới hàm ý chỉ sự tiến triển vượt bậc, đáng kể do nhóm chuyên gia được đào tạo như kỹ sư hoặc nhà quản lý tạo ra. Trái lại, cải tiến Kaizen là sự tích lũy dần dần và liên tục các cải tiến nhỏ của tất cả NLĐ trong doanh nghiệp (bao gồm cả cấp điều hành và quản lý). Điều này nhằm mục đích đảm bảo mọi hoạt động, môi trường làm việc luôn được cải tiến, giúp nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc, tiết kiệm chi phí, nguồn lực.
Người Nhật coi từ Kaizen như một biểu tượng chứa đựng toàn bộ sự phấn đấu hàng ngày trong công việc và cách thức chúng ta nỗ lực để làm công việc đó. Theo Từ điển Tiếng Việt (2018) thì: “Cải tiến” có nghĩa là: “Sửa đổi phần nào cho tiến bộ hơn” như cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý xí nghiệp, công cụ cải tiến. Như vậy, cải tiến gia tăng NSLĐ được hiểu là sửa đổi phần nào cho tiến bộ hơn nhằm mục đích tăng NSLĐ. Gia tăng năng suất Theo Từ điển Việt - Việt (2016) thì “gia tăng” là động từ có nghĩa là “tăng thêm”.
Ví dụ như: Gia tăng doanh thu, chi phí ngày càng gia tăng. Như vậy, gia tăng năng suất có thể hiểu là tăng thêm năng suất lao động. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012), tăng NSLĐ là: “Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, sao cho lượng lao động ít hơn mà lại sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn”. Điều đó có nghĩa là trong một đơn vị thời gian như cũ, khi NSLĐ tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ nhiều hơn hoặc thời gian lao động hao phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi.
Khi tăng NSLĐ, quan hệ giữa phần lao động sống và lao động vật hóa để sản 13 xuất ra đơn vị sản phẩm thường xuyên có sự thay đổi. Theo Karl Marx (1960): “Giá trị của hàng hóa được quy định bởi tổng số thời gian lao động, lao động quá khứ và lao động sống, đã nhập vào hàng hóa ấy. NSLĐ tăng lên biểu hiện ở chỗ, phần lao động sống thì giảm; còn phần lao động quá khứ thì tăng lên, nhưng tăng lên như thế nào để tổng hao phí lao động chứa đựng trong hàng hóa ấy giảm đi; nói một cách khác, lao động sống giảm đi nhiều hơn là lao động quá khứ tăng lên”. Ý nghĩa của việc gia tăng năng suất lao động Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012), ý nghĩa quan trọng nhất của tăng NSLĐ là ở chỗ nó là con đường tăng tổng sản phẩm xã hội không có giới hạn, con đường làm giàu cho mỗi quốc gia và từng thành viên trong xã hội.
Vì vậy, thực hiện hoạt động cải tiến gia tăng NSLĐ có một ý nghĩa rất lớn đối với xã hội loài người, nó là động cơ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia, là cơ sở quan trọng trong các quyết định ở tầm vĩ mô và vi mô. Mục tiêu của tăng NSLĐ hiện nay là hoàn thiện chất lượng cuộc sống của con người trên toàn thế giới. Vấn đề trung tâm của NSLĐ là đảm bảo xã hội tốt hơn thông qua kỹ thuật cải tiến nhằm sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực và công nghệ sẵn có. Đối với các DN, tăng NSLĐ càng có ý nghĩa quan trọng bởi nó là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN và là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN.
Tăng NSLĐ đem lại ý nghĩa cụ thể như sau: (i) Góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường. Có thể nói, nâng cao năng lực cạnh tranh là một vấn đề quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay vì sẽ giúp DN bán được nhiều sản phẩm hơn, tăng thị phần, lợi nhuận, mở rộng thị trường.Khi NSLĐ tăng thì giúp giá thành sản phẩm giảm nhưng chất lượng sản phẩm cũng được cải tiến vì tiết kiệm được chi phí về tiền lương trên một đơn vị sản phẩm. Giá cả và chất lượng chính là hai yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh 14 của DN trên thị trường; (ii) Góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. NSLĐ cao và tăng nhanh sẽ tạo điều kiện cho việc tăng quy mô và tốc độ của tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, cho phép giải quyết thuận lợi các vấn đề tích lũy, tiêu dùng.
Vì NSLĐ tăng lên thì sản lượng tăng lên và tổng giá trị sản lượng tăng lên. Khi giá trị sản lượng tạo điều kiện cho việc tăng lợi nhuận, giúp các DN có thể tích lũy đầu tư mở rộng sản xuất; (iii) Tăng NSLĐ sẽ giúp tiết kiệm nguồn lực lao động, đồng thời tiết kiệm nguồn quỹ tiền lương. Từ đó, tăng tiền lương cho cá nhân NLĐ. Đây chính là nguồn khích lệ, tạo động lực làm việc cho NLĐ sáng tạo, góp phần cải tiến gia tăng NSLĐ; (iv) Tăng NSLĐ và tăng việc làm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động và hoạt động thực hiện cải tiến gia tăng năng suất lao động 1. Nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động Theo Göbenez, Y. Trong đó, yếu tố bên trong, đặc biệt là yếu tố mềm đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hoạt động cải tiến gia tăng năng NSLĐ.