phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm ba (03) chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lƣợc kinh doanh cho doanh nghiệp. Đánh giá thực trạng hoạt động và phân tích môi trƣờng kinh doanh Công ty Cổ phần Việt Chào Chƣơng 3. Hoạch định chiến lƣợc kinh doanh cho Công ty Cổ phần Việt Chào đến năm 2022 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát về chiến lƣợc kinh doanh 1. Khái niệm cơ bản về chiếnlƣợc kinh doanh 1. Khái niệm Khái niệm chiến lược Ý tƣởng chiến lƣợc ban đầu đƣợc hình thành trong lĩnh vực quân sự để chỉ những kỹ năng và nghệ thuật sử dụng các lực lƣợng quân sự của những nhà chỉ huy, những quyết định kế hoạch, hoạt động tầm cỡ lớn, có tác động bản lề nhằm xoay chuyển tình thế, mang lại có lợi cho một bên tham chiến để giành thắng lợi cuối cùng. Trong cuộc chiến, chiến lƣợc mang tính nghệ thuật nhiều hơn khoa học, “chiến lƣợc là nghệ thuật chỉ huy các phƣơng tiện để chiến thắng” hoặc “chiến lƣợc là nghệ thuật để chiến đấu ở vị trí ƣu thế”.
Về sau, thuật ngữ chiến lƣợc đƣợc sử dụng trong lĩnh vực kinh tế, ban đầu để chỉ cách thức hợp tác kinh doanh, cách đấu tranh trên thƣơng trƣờng. Trên nhiều phƣơng diện, chiến lƣợc trong kinh tế giống chiến lƣợc quân sự, đó là cả hai đều sử dụng những điểm mạnh của mình để khai thác điểm yếu của đối thủ. Sự khác nhau cơ bản của chúng là trong kinh tế chiến lƣợc đƣợc hình thành, thực thi và đánh giá với giả thiết có cạnh tranh, trong chiến lƣợc quân sự dựa trên giả thiết có mâu thuẫn đối kháng. Với xuất phát từ nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau vào từng thời kỳ phát triển khác nhau mà các nhà kinh tế có những quan niệm khác nhau về chiến lƣợc.
Có thể nêu có một số quan niệm sau: - Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. - Theo Quinn (1980): “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặtchẽ”. 5 - Theo Johnson & Scholes (1999): “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên liên quan”. Porter (1996): “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”.
Một số nhà kinh tế học hiện đại lại cho rằng “chiến lƣợc” có thể bao gồm “5P”: Kế hoạch (Plan), Mƣu lƣợc (Ploy), Mô thức, dạng thức (Pattern), Vị thế (Position) và Triển vọng (Perspective) mà các công ty có đƣợc hoặc muốn có đƣợc trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nhƣ vậy có thể thấy có nhiều quan niệm khác nhau về chiến lƣợc. Nhƣng nhìn chung có thể thấy chiến lƣợc là tập hợp các quyết định (mục tiêu, đƣờng lối, chính sách, phƣơng thức, phân bổ nguồn lực.) và phƣơng châm hành động để đạt đƣợc mục tiêu dài hạn, phát huy đƣợc những điểm mạnh, khắc phục đƣợc những điểm yếu của tổ chức, giúp tổ chức đón nhận những cơ hội và vƣợt qua nguy cơ từ bên ngoài một cách tốt nhất. Chiến lược kinh doanh Chiến lƣợc kinh doanh là thuật ngữ bắt đầu đƣợc phổ biến trong lý luận và thực tiễn quản trị kinh doanh từ những năm 60 thế kỷ trƣớc ở các nƣớc tƣ bản châu Âu & Mỹ và từ nửa cuối thập kỷ 90 thế kỷ trƣớc ở Việt Nam.
Có nhiều cách nhìn nhận và định nghĩa khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển, bối cảnh và tình thế ngành kinh doanh cụ thể. Có thể cho rằng: “Chiến lƣợc kinh doanh là tập hợp những quyết định và hành động kinh doanh hƣớng mục tiêu để các nguồn lực của doanh nghiệp đáp ứng đƣợc những cơ hội và thách thức từ bên ngoài”. Định nghĩa chiến lƣợc kinh doanh bao gồm những vấn đề chính là: Một là, chiến lƣợc kinh doanh có liên quan tới các mục tiêu của công ty. Đó chính là điều mà các nhà quản trị thực sự quan tâm.
Có điều những chiến lƣợc kinh doanh khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm, thời kỳ kinh doanh của từng công ty. Tuy nhiên, việc xác định, xây dựng và quyết định chiến lƣợc kinh doanh hƣớng mục tiêu là chƣa đủ mà nó đòi hỏi mỗi chiến 6 lƣợc cần đƣa ra những hành động hƣớng mục tiêu cụ thể, hay còn gọi là cách thức làm thế nào để đạt đƣợc mục tiêu đó. Hai là, chiến lƣợc kinh doanh không phảỉ là những hành động riêng lẻ, đơn giản. Điều đó sẽ không dẫn tới một kết quả to lớn nào cho doanh nghiệp.
Chiến lƣợc kinh doanh phải là tập hợp các hành động và quyết định hành động liên quan chặt chẽ với nhau, nó cho phép liên kết và phối hợp các nguồn lực tập trung giải quyết một vấn đề cụ thể của công ty nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Nhƣ vậy, hiệu quả hành động sẽ cao hơn, kết quả hoạt động sẽ to lớn hơn nếu nhƣ chỉ hoạt động đơn lẻ thông thƣờng. Điều mà có thể gắn kết các nguồn lực cùng phối hợp hành động không đâu khác chính là mục tiêu của công ty. Ba là, chiến lƣợc kinh doanh cần phải đánh giá đúng đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của mình kết hợp với những thời cơ và thách thức từ môi trƣờng.
Điều đó sẽ giúp cho các nhà quản trị của công ty tìm đƣợc những ƣu thế cạnh tranh và khai thác đƣợc những cơ hội nhằm đứadoanh nghiệp chiếm đƣợc vị thế chắc chắn trên thị trƣờng trƣớc những đối thủ cạnh tranh. Bốn là, chiến lƣợc kinh doanh phải tính đến lợi ích lâu dài và đƣợc xây dựng theo từng giai đoạn mà tại đó chiến lƣợc đòi hỏi sự nỗ lực của các nguồn lực là khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu của mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ. Do vậy các nhà quản trị phải xây dựng thật chi tiết từng nhiệm vụ của chiến lƣợc ở từng giai đoạn cụ thể. Đặc biệt cần quan tâm tới các biến số dễ thay đổi của môi trƣờng kinh doanh.
Bởi nó là nhân tố ảnh hƣởng rất lớn tới mục tiêu của chiến lƣợc ở từng giai đoạn. Tóm lại thuật ngữ “Chiến lƣợc kinh doanh” chính là phác thảo hình ảnh tƣơng lai của công ty. Chiến lƣợc kinh doanh có 3 ý nghĩa chính là: - Xác định tầm nhìn, sứ mạng, các mục tiêu dài hạn và cơ bản của doanh nghiệp. - Tập hợp đƣa ra các chƣơng trình hành động tổng quát cho từng thời kỳ.
- Lựa chọn các phƣơng án hành động, triển khai việc phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Vai trò Chiến lƣợc kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Chiến lƣợc kinh doanh đúng đắn sẽ tạo một 7 hƣớng đi tốt, là kim chỉ nam dẫn đƣờng cho doanh nghiệp đi đúng hƣớng. Vai trò của chiến lƣợc kinh doanh đối với doanh nghiệp đƣợc thể hiện trên các khía cạnh sau: Một là, Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp thấy rõ những cơ hội và thuận lợi trong kinh doanh, tận dụng chúng để đƣa ra chiến lƣợc, chính sách phát triển phù hợp nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra.
Chiến lƣợc kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Chiến lƣợc kinh doanh đúng đắn sẽ tạo một hƣớng đi tốt cho doanh nghiệp, chiến lƣợc kinh doanh có thể coi nhƣ kim chỉ nam dẫn đƣờng cho doanh nghiệp đi đúng hƣớng. Bên cạnh đó, chiến lƣợc kinh doanh giúp cho các nhà quản trị dự báo những bắt trắc, rủi ro sẽ xảy ra trong những hiện tại cũng nhƣ tƣơng lai. Hai là, Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp định hƣớng cho hoạt động của mình trong tƣơng lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trƣờng kinh doanh.
Kinh doanh là một hoạt động luôn chịu sự ảnh hƣởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong. Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động của thị trƣờng, đồng thời còn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển theo đúng hƣớng. Ba là, Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt đƣợc các cơ hội cũng nhƣ nhận diện đƣợc đầy đủ các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của doanh nghiệp.
Chiến lƣợc giúp doanh nghiệp liên kết đƣợc các cá nhân với các lợi ích khác cùng hƣớng tới một mục đích chung, cùng phát triển doanh nghiệp. Bốn là, Chiến lƣợc kinh doanh là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp. Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hƣởng và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trên thị trƣờng.
Năm là, Chiến lƣợc kinh doanh đƣa ra những định hƣớng chính xác tạo cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh vƣợt trội cũng nhƣ tạo ra sự khác biệt. Mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển. Chiến lƣợc kinh doanh 8 có 4 nội dung chính sau: Định hƣớng kinh doanh; Nhận dạng cơ hội và nguy cơ; Chủ động ra quyết định phù hợp với điều kiện bên ngoài; Nâng cao lợi thế cạnh tranh. Vai trò của chiến lƣợc kinh doanh khẳng định sự cần thiết tất yếu của chiến lƣợc trong hoạt động quản trị nói chung và quản trị kinh doanh nói riêng trong nền kinh tế hiện đại.
Chính vì vậy, việc xây dựng và áp dụng chiến lƣợc kinh doanh là nội dung không thể thiếu đƣợc trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại chiến lƣợc kinh doanh Phân loại chiến lƣợc kinh doanh là một công việc quan trọng mà tại đó các nhà quản trị cần lựa chọn những chiến lƣợc phù hợp với mục tiêu đề ra cũng nhƣ phù hợp với nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong công ty hay toàn công ty.