Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Dương. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Dương. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển : Giai đoạn tiền COSO ( Từ năm 1992 trở về trƣớc ) Mọi hoạt động kinh tế đều cần nguồn vốn. Các kênh cung cấp vốn đã hình thành và ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu.
Để có thể cung cấp vốn, ngân hàng cần có bức tranh về tình hình tài chính có thể tin cậy được, mà khởi điểm là Bảng cân đối kế toán. Muốn vậy, cần có những người có năng lực, độc lập đảm nhiệm chức năng xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính, từ đó có sự ra đời của các công ty kiểm toán. Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đã sớm nhận thức rằng không cần thiết phải kiểm tra tất cả nghiệp vụ phát sinh mà chỉ chọn mẫu để kiểm tra và dựa vào sự tin tưởng của hệ thống KSNB do đơn vị được kiểm toán sử dụng trong việc xử lý, tập hợp các thông tin để lập báo cáo tài chính (BCTC). Vì vậy các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến KSNB.
Khái niệm KSNB bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán với một ý nghĩa rất đơn giản: các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ. Năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức trong một Công bố của Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), theo đó kiểm soát nội bộ được định nghĩa là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Năm 1936, trong một công bố, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA – American Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa KSNB “…là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách.” 2 Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề:” Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập.Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là: “….cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý.” Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB. - Trước hết, vào năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP- Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 ( SAP- Statement Auditing Procedure) về: “ Phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập”, trong đó lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán, và đã đưa ra định nghĩa như sau: a.
Kiểm soát nội bộ về kế toán: bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán. Chúng thường bao gồm các thủ tục kiểm soát như hệ thống xét duyệt và phê chuẩn, tách biệt nhiệm vụ giữ sổ sách và lập báo cáo với bảo quản tài sản, kiểm soát vật chất với tài sản và kiểm toán nội bộ. Kiểm soát nội bộ về quản lý: bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên quan chủ yếu đến tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị. Chúng thường chỉ liên quan gián tiếp đến thông tin tài chính, bao gồm các hoạt động kiểm soát như phân tích thống kê, nghiên cứu về thời gian và động cơ, báo cáo về tính hiệu quả, chương trình huấn luyện nhân viên và kiểm soát chất lượng.
- Đến năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP33 (1962), đã làm rõ hơn về vấn đề này như sau: 3 Kiểm toán viên độc lập trước hết sẽ quan tâm đến kiểm soát nội bộ về kế toán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thông tin tài chính và do vậy kiểm toán viên cần đánh giá KSNB đối với vấn đề này. - Đến 1972, CPA tiếp tục ban hành SAP54 (1972) “ Tìm hiểu và đánh giá KSNB” trong đó đưa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán, đó là đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê. * Sự ra đời của Báo cáo COSO ( năm 1992) Nguyên nhân dẫn đến việc thành lập Ủy ban COSO là: - Vào những thập niên 1970 – 1980, nền kinh tế của Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác đã phát triển mạnh mẽ. Số lương của các công ty tăng nhanh, kể cả các công ty thuộc quyền sở hữu của nhà nước và kinh doanh quốc tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các vụ gian lận cũng ngày càng tăng, với quy mô ngày càng lớn, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh tế. Trong quá trình điều tra vụ tai tiếng chính trị Watergate, Quốc hội Hoa Kỳ đã phát hiện rất nhiều các hoạt động vận động tranh cử trái phép và rửa tiền liên quan đến nước ngoài. Vào năm 1977, luật về chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corrupt practices act) ra đời. Sau đó, SEC đưa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình (1979).
Yêu cầu về báo cáo KSNB của công ty cho công chúng là một chủ đề gây nhiều tranh luận. - COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên BCTC, thường gọi là Ủy ban Treadway. Báo cáo về các quan sát và khuyến nghị của Ủy ban Treadway đã lưu ý rằng có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau liên quan kiểm soát nội bộ, do vậy cần có một tổ chức để nghiên cứu về kiểm soát nội bộ nhằm thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau, đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị 4 có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và đưa ra hướng dẫn nhằm giảm đi sự khác biệt về quan điểm. - Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp, mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO.
Năm tổ chức đó là: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ ( AAA – American Accounting Association), Hiệp hội Quản trị viên tài chính ( FEI – Financial Executives Institute), Hiệp hội Kế toán viên quản trị ( IMA – Institute of Management Accountants), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ ( IIA – Institute of Internal Auditors) Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo năm 1992. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. COSO đã định nghĩa đầy đủ về KSNB và dùng từ Kiểm soát nội bộ thay vì KSNB về kế toán. Báo cáo COSO đưa ra năm bộ phận của KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
- Cấu trúc của Báo cáo COSO (1992): gồm bốn phần, đó là: Phần 1: Tóm tắt dành cho ngƣời điều hành: cung cấp cái nhìn tổng quát về KSNB ở mức độ cao dành riêng cho các nhà quản lý cao cấp và giám đốc điều hành, và các cơ quan quản lý nhà nước. Phần 2: Khuôn mẫu của KSNB: là nội dung cơ bản của báo cáo COSO, trong đó định nghĩa về KSNB và các tiêu chuẩn để giúp Ban giám đốc, nhà quản lý và các đối tượng khác nghiên cứu để thiết kế, vận hành hay để đánh giá hệ thống KSNB. Phần 3: Báo cáo cho đối tượng bên ngoài: là tài liệu bổ sung nhằm hướng dẫn cho các tổ chức cần báo cáo về KSNB cho bên ngoài. Phần 4: Công cụ đánh giá hệ thống KSNB: đưa ra các hướng dẫn, gợi ý thiết thực cho việc đánh giá hệ thống KSNB.
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là 5 cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến BCTC mà được mở rộng ra cho cả các phương diện hoạt động và tuân thủ. Giai đoạn hậu COSO ( từ năm 1992 đến nay): Sau khi báo cáo COSO 1992 được phát hành thì tiếp đó hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời. COSO phát triển về quản trị, về doanh nghiệp nhỏ (2006), về công nghệ thông tin, kiểm toán độc lập, chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và giám sát (2008), cụ thể: Phát triển về phía quản trị : Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM – Enterprise Risk Management Framework) trên cơ sở Báo cáo COSO 1992.
Đến 2004, ERM đã được chính thức ban hành.ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ: Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “ Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (gọi tắt là COSO Guidance 2006).