Chương 1. Tổng quan nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố tác động đến các CTCP ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 4. Nội dung kết quả nghiên cứu Chương 5.
Kết luận và khuyến nghị Thư viện ĐH Thăng Long TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả là nghĩa là hiệu suất, năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận.
Trong lao động nói chung hiệu quả là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả kinh doanh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp. Theo giáo trình Thống kê doanh nghiệp của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh thì “hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh giữa lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, biểu hiện mức độ phát triển doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh”. Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Thực chất, hiệu quả hoạt động kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai.
Nếu gọi H là hiệu quả hoạt động kinh doanh thì H được thể hiện qua hai công thức toán học sau: 1 𝐾 𝐻= (1) 𝐶 𝐶 𝐻= (2) 𝐾 Trong công thức trên, K là kết quả nhận được có thể đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp,… Còn yếu tố đầu vào (C) bao gồm: đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu và vốn vay. Công thức (1) phản ánh sức sản xuất (mức sinh lời) của các yếu tố đầu vào được tính cho tổng số và riêng cho giá trị gia tăng. Công thức này cho biết cứ một đơn vị đầu vào được sử dụng thì cho ra bao nhiêu kết quả đầu ra. Công thức (2) được tính nghịch đảo của công thức (1) phản ánh suất hao phí các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị kết quả đầu ra thì cần có bao nhiêu đơn vị yếu tố đầu vào.
Như vậy, kết quả tính được ở công thức (1) càng lớn chứng tỏ hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao và công thức (2) thì ngược lại. Vai trò của hiệu quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời, qua đó đưa ra những đánh giá về khả năng sử dụng nguồn lực, quản lý và dự đoán xu hướng thị trường. Đối với vai trò của hiệu quả kinh doanh, cần xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau: Đối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả của nền kinh tế quốc dân phụ thuộc chặt chẽ vào hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp, công ty và thậm chí là từng cá nhân.
Vai trò của hiệu quả kinh doanh được biểu thị rất rõ ở khía cạnh này, nếu hiệu quả kinh doanh của từng cá thể, tổ chức tốt thì kinh tế quốc dân sẽ luôn khởi sắc và ngược lại. Đối với doanh nghiệp: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là nhân tố thúc đẩy sức cạnh tranh và tiến bộ trong sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh còn là điều kiện thực hiện mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Đối với người lao động: Một doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh tốt đồng nghĩa với việc người lao động cũng sẽ được hưởng lợi tốt.
Đó là công việc ổn định, mức thu nhập tốt và công sức lao động được đánh giá cao. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Thu thập thông tin từ việc phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí, từ đó phát huy những mặt tích cực và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 2 Thư viện ĐH Thăng Long Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận, cổ tức,… để tiếp thêm sức mạnh đưa ra các quyết định đầu tư thêm hay rút vốn nhằm thu lợi nhuận cao nhất, đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư. Đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước: Thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn ngân sách để kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện luật kinh doanh, các chế độ tài chính,… Qua đó, kiến nghị với các cơ quan chức năng góp phần hoàn thiện chế độ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển.
Thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh thường được đánh giá bằng cách so sánh giữa kết quả thu được từ hoạt động của một cá nhân hoặc bộ phận cụ thể và so sánh nó với tiêu chuẩn, định mức hoặc thực tế tốt nhất. Để đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, người ta phải đo lường được chúng. Do vậy, đo lường và đánh giá kết quả hoạt động gắn bó hữu cơ với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Nếu không đo lường được kết quả hoạt động thì không thể đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo Drury (2012), mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng kết quả khảo sát của các tác giả Reece và Cool (1978), Fremgen và Liao (1981), Ramadan (1989), Skinner (1990) và Drury và El-Shishini (2005), cho thấy các thước đo tài chính vẫn được sử dụng rộng rãi để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp. Các hệ thống thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động bao gồm các thước đo tài chính và các thước đo phi tài chính. Các thước đo tài chính gồm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các trung tâm đầu tư như: lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), thu nhập còn lại (RI) và các giá trị kinh tế gia tăng (EVA). Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Khả năng tạo ra doanh thu của doanh nghiệp là những chiến lược dài hạn, quyết định tạo ra lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Song mục tiêu cuối cùng của nhà quản trị không phải là doanh thu mà là lợi nhuận sau thuế. Do vậy để tăng lợi nhuận sau thuế cần phải duy trì tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí, khi đó mới có sự tăng trưởng bền vững. Mặt khác, chỉ tiêu này cũng thể hiện trình độ kiểm soát chi phí của các nhà quản trị nhằm tăng sự cạnh tranh trên thị trường, chỉ tiêu này được xác định như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑇ỷ 𝑠𝑢ấ𝑡 sinh 𝑙ờ𝑖 𝑡𝑟ê𝑛 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 (𝑅𝑂𝑆) = 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp nhận được một đồng doanh thu thì sẽ thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy kết quả kinh doanh của công ty càng khả quan, công ty 3 càng kiếm thêm được nhiều đồng lợi nhuận để phục vụ cho việc phát triển và mở rộng doanh nghiệp cũng như trả công cho người lao động, các chủ sở hữu.
Ngược lại nếu chỉ số tỷ suất sinh lời trên doanh thu bị âm, điều này cho thấy kết quả kinh doanh của công ty đang bị lỗ, tiêu thụ được sản phẩm, tuy nhiên thu nhập không đủ bù đắp chi phí, bởi vậy nhà quản trị cần tăng cường kiểm soát chi phí của các bộ phận. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Trong quá trình tiến hành những hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp mong muốn mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ nhằm tăng trưởng mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Do vậy, nhà quản trị thường đánh giá hiệu quả sử dụng các tài sản đã đầu tư, được xác định bằng công thức: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑇ỷ 𝑠𝑢ấ𝑡 sinh 𝑙ờ𝑖 𝑡𝑟ê𝑛 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 (𝑅𝑂𝐴) = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tổng tài sản để đầu tư thì thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty càng khả quan.
Đó là nhân tố giúp nhà quản trị đầu tư theo chiều rộng như xây dựng nhà xưởng, mua thêm máy móc thiết bị, mở rộng thị phần tiêu thụ,… điều đó càng đặc biệt quan trọng đối với các công ty hoạt động trong ngành bất động sản.