Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý giải pháp Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày: (1)Các lý thuyết về đào tạo trực tuyến; (2)Các khái niệm về chấp nhận và sử dụng công nghệ trong đào tạo, (3) Các định nghĩa và các nhân tố tác động đến dự định hành vi khi đăng ký tham gia khóa học trực tuyến và (4)Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Lý thuyết về đào tạo trực tuyến 2. Một số khái niệm cơ bản Các khái niệm về đào tạo trực tuyến xuất hiện lần đầu tiên vào đầu những năm 1990, phát triển mạnh vào những năm 2000 tại các quốc gia tiên tiến và là một trong những tiến bộ có ý nghĩa lớn nhất trong ngành công nghệ thông tin và trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo (Hassan, 2007). Viện kỹ nghệ điện và điện tử IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers) cho rằng hệ thống giáo dục trực tuyến là “một hệ thống công nghệ học tâp sử dụng các trình duyệt web như một phương tiện chính yếu để tương tác với học viên; cùng với một mạng nội bộ là phương tiện của giao tiếp trong hệ thống của chính mình cũng như với bên ngoài.
Những liên kết này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy và học tập”. Sun Microsytems định nghĩa: “Học tập online là một việc trao đổi, truyền đạt kiến thức được phân phối và hỗ trợ thông qua công nghệ thông tin như mạng internet, truyền hình, các hệ thống giảng dạy thông minh và máy tính”. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng theo tác giả, đào tạo trực tuyến có hai đặc điểm cơ bản sau: Đầu tiên giáo dục trực tuyến chắc chắn sẽ trở thành xu thế tất yếu trong thời gian sắp tới do phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, giúp cho việc tương tác với từng cá nhân học viên trở nên dễ dàng và cần thiết hơn. Thứ hai chính là hiệu quả của giáo dục trực tuyến nếu như được đầu tư và triển khai thích hợp sẽ cao hơn so với phương thức đào tạo truyền thống do tiết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 kiệm được thời gian di chuyển, chi phí thuê mướn địa điểm, trao đổi thông tin đa chiều trong hệ thống và bài giảng sẽ được cá nhân hóa, giúp tăng cao tính ứng dụng của học viên.
Hiện nay, việc đào tạo và học tập trực tuyến đang rất được quan tâm và nhận được nhiều sự đầu tư đáng kể từ doanh nghiệp và chính quyền các nước. Học tập trực tuyến chỉ chiếm một phần của việc học tập dựa trên công nghệ (hay còn gọi là giáo dục trực tuyến) và mô tả việc học hỏi qua Internet, mạng nội bộ và mạng nội bộ mở rộng. Nghiên cứu của tác giả tập trung vào việc sử dụng các trang mạng học kỹ năng trực tuyến của học viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, hay chính là học tập trực tuyến, một tập hợp con của giáo dục trực tuyến. Dựa theo kết quả nghiên cứu và tình hình tại Việt Nam hiện nay, tác giả cho rằng: Học kỹ năng mềm trực tuyến là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy kỹ năng để đạt được thuận lợi và hiệu quả như đã đề cập ở trên và các trang web học kỹ năng trực tuyến là các trang web cung cấp các chương trình giảng dạy cho người học phù hợp với trình độ sẵn có và mục tiêu của từng người học.
Tầm quan trọng của đào tạo trực tuyến Đối với học viện, khi tham gia học tập trực tuyến đồng nghĩa những giới hạn về thời gian, không gian và khoảng cách với giảng viên dần dần bị thu hẹp. Học sinh sinh viên có thể dễ dàng truy cập hệ thống tài liệu học tập bất cứ lúc nào, đồng thời hình thức này cho phép việc tương tác giữa người học và người giảng dạy được diễn ra liên tục, thường xuyên. Với mạng internet, người học ngay lập tức có thể tra cứu những thông tin, tài liệu liên quan đến những chủ đề đang được giảng viên trình bày để làm rõ thông tin, cũng như dễ dãng tiếp cận với những chuyên gia, tài liệu đầu ngành trong lĩnh vực mà họ đang nghiên cứu. Ngoài ra, còn có phương pháp học theo tình huống, theo đó, người học có thể áp dụng những kiến thức và kỹ năng trong một tình huống cụ thể, theo đó, học viên có thể hoàn thành các bài tập ngay cả khi đang làm ở nhà hoặc trên một chuyến công tác hay du lịch ở nước ngoài, và họ có thể đặt việc học trong một tình huống cụ thể.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đối với các giảng viên, việc truyền đạt kiến thức có thể thực hiện được ở mọi nơi, mọi lúc. Các tài liệu giảng dạy liên quan có thể được cập nhật và sửa đổi tức thời. Khi mà người học có quyền tiếp cận các tài liệu ở trên Internet, thì điều này sẽ thuận lợi hơn cho giáo viên để thiết kế những bài giảng, bài tập thực hành dựa trên nhu cầu và năng lực học tập của từng cá nhân học viên. Nếu các tài liệu và phương tiện giảng dạy được thiết kế một cách hợp lý, hệ thống học tập trực tuyến có thể được sử dụng để xác định nhu cầu của người học cũng như đánh giá trình độ hiện tại của họ, cũng như giao những bài tập phù hợp cho sinh viên, để đạt được kết quả học tập mà họ đặt ra.
Cụ thể là, các hệ thống này có thể được sử dụng để tích hợp các tài liệu giảng dạy (qua các dữ liệu âm thanh, video, và các văn bản), e-mail, các buổi trò chuyện trực tiếp, các cuộc thảo luận trực tuyến, diễn đàn, câu đố và bài tập. Với hệ thống học tập trực tuyến, sự giảng dạy và giao tiếp giữa giáo viên và sinh viên có thể được tiến hành cùng một lúc (đồng bộ) hoặc vào các thời điểm khác nhau (không đồng bộ). Hệ thống này cung cấp một loạt các công cụ trợ giảng và phương pháp giao tiếp, phục vụ người học một cách linh hoạt tuyệt vời như về thời gian và địa điểm giảng dạy. Kết quả là, các hệ thống học tập trực tuyến có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học đã được phân tán về mặt địa lý và có kế hoạch mâu thuẫn.
Hiện nay, các doanh nghiệp, các ngân hàng và các tổ chức khác đang dần dần hiện đại hóa hệ thống đào tạo trực tuyến như là một trong những phương thức chính để đào tạo cho nhân viên của chính mình (Simmons, 2002). Cũng trong giai đoạn hội nhập kinh tế như hiện nay, các tổ chức giáo dục đang tăng cường sự sử dụng trang mạng và các phương tiện truyền thông công nghệ cao cho việc giảng dạy ở cả ở trong các trường đại học và hệ thống giáo dục từ xa. Đối với việc sử dụng hệ thống tương đối là đắt đỏ này của các tổ chức kinh tế và giáo dục, chắc chắn là hệ thống giáo dục – đào tạo trực tuyến phải mang đến những lợi ích nhất định. Với những lợi thế đó, không phải là điều đáng ngạc nhiên khi mà các tổ chức kinh doanh và giáo dục đang có những khoản đầu tư đáng kể trong các hệ thống giáo dục – đào tạo trực tuyến.
Ví dụ, trong năm 2000, đầu tư vào thị trường giáo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dục-đào tạo trực tuyến tại Hoa Kỳ được thống kê là 2,2 tỷ USD theo báo cáo của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation) và ước tính khoản đầu tư này sẽ vượt quá 23 tỷ USD năm 2004 (Anderson, Dankens, &Julian, 2000). Các cơ sở giáo dục sau trung học cũng đã trải qua sự tăng trưởng đáng kể trong việc sử dụng hệ thống giáo dục trực tuyến, với một số tổ chức cung cấp toàn bộ các chương trình học tập thông qua giáo dục từ xa. Lý thuyết và mô hình chấp nhận công nghệ trực tuyến 2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM Mô hình chấp nhận công nghệ TAM được xây dựng bởi Fred Davis năm 1989 và Richard Bagozzi năm 1992, dựa trên sự phát triển từ thuyết TRA và TPB.
Thuyết hành động hợp lý TRA được phát triển bởi Martin Fishbein năm 1975 và Ajzen năm 1980. TRA đi sâu vào nghiên cứu thái độ và hành vi. Nhân tố quan trọng nhất trong dự đoán hành động tiêu dùng là dự định hành vi. Thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng là hai yếu tố ảnh hưởng đến dự định hành vi mạnh mẽ nhất.
Niềm tin và sự Thái độ đánh giá Dự định Hành động hành vi thực sự Niềm tin theo Chuẩn chuẩn mực và chủ động cơ thúc đầy quan Hình 2.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành vi có kế hoạch TPB, ngoài hai nhân tố thái độ và chuẩn chủ quan, dự định còn bị tác động bởi nhân tố thứ ba là sự kiểm soát hành vi cảm nhận, nghĩa là các nguồn lực bao gồm những kiến thức, kĩ năng sẵn có, những cơ hội và nhận thức riêng của mỗi người để thực hiện một công việc nào đó. Nhờ sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 phát hiện nhân tố thứ ba, mô hình TPB được nhận định là tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi người tiêu dùng. Thái độ Dự định hành Hành động thực Chuẩn chủ quan vi sự Sự kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2.2: Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Mô hình TAM đi sâu vào giải thích hành vi chấp nhận và sử dụng công nghệ của người tiêu dùng. Ngoài những nhân tố mà mô hình TRA và TPB đã đề cập, mô hình TAM còn có thêm sự xuất hiện của hai nhân tố tác động trực tiếp đến thái độ người tiêu dùng là ích lợi cảm nhận và sự dễ sử dụng cảm nhận.
Ích lợi cảm nhận Biến Thái độ Dự định Sử dụng bên ngoài hành vi thực sự Sự dễ sử dụng cảm nhận Hình 2.3: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM Những nghiên cứu đã có áp dụng mô hình TAM: Nghiên cứu “Phát triển mô hình TAM để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đế ý định sử dụng hệ thống cộng đồng học trực tuyến” được thực hiện năm 2010 bởi nhóm nghiên cứu đến từ các trường đại học khác nhau ở Đài Loan (I-Fan Liu, Meng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chang Chen, Yeali S. Sun, David Wible và Chin-Hwa Kuo).