Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh" được sinh viên Phan Thị Mỹ Linh (lớp DHQT13F, chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lê Bảo Hân vào năm 2021.
Bối cảnh thực tiễn của đề tài xuất phát từ sự bùng nổ của mạng Internet và xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh thương mại. Theo số liệu của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số được tác giả trích dẫn, tỷ lệ người dùng Internet tham gia mua sắm trực tuyến ít nhất một lần trong năm đã tăng từ mức 70% (năm 2018) lên 77% (năm 2019), trong đó phần lớn các sản phẩm giao dịch tập trung phục vụ đời sống sinh hoạt thường nhật. Về kênh mua bán, người tiêu dùng thực hiện giao dịch thông qua các trang thương mại điện tử chiếm tỷ lệ 52%, qua các diễn đàn và mạng xã hội chiếm 57%, và qua các ứng dụng di động chiếm 57%. Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng thương mại điện tử mang lại cho người tiêu dùng nhiều tiện ích vượt trội so với mua sắm truyền thống, chẳng hạn như tiết kiệm thời gian, tối ưu hóa chi phí, khả năng chủ động tìm kiếm và so sánh nhiều loại hàng hóa đa dạng.
Tuy nhiên, thị trường gia tăng số lượng nhà bán hàng cũng tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt. Người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn thay thế và sẵn sàng từ bỏ một nền tảng nếu trải nghiệm mua sắm không đạt kỳ vọng. Đồng thời, tâm lý người tiêu dùng vẫn tồn tại nhiều rào cản như e ngại sản phẩm nhận được kém chất lượng, nguy cơ lộ lọt thông tin cá nhân và chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng chưa đáp ứng yêu cầu. Dẫn theo quan điểm của Lim và Cham (2015), tác giả nhấn mạnh chi phí giữ chân một khách hàng đã có kinh nghiệm thấp hơn đáng kể so với chi phí tìm kiếm khách hàng mới. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố thúc đẩy ý định mua lại là yêu cầu thực tiễn cấp bách đối với các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến nhằm duy trì doanh thu và lợi thế cạnh tranh bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mục tiêu cụ thể:
- Thứ nhất: Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thứ hai: Đo lường và xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thứ ba: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị giúp các doanh nghiệp cải thiện hoạt động kinh doanh nhằm gia tăng ý định mua lại của khách hàng.
Khóa luận giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh?
- Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng nhiều? Yếu tố nào ảnh hưởng ít?
- Câu hỏi 3: Những hàm ý quản trị nào nên được áp dụng để giúp hoạt động kinh doanh của các trang thương mại điện tử cải thiện để khách hàng có ý định mua lại sản phẩm của mình?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đối tượng khảo sát: Những người tiêu dùng đã từng có kinh nghiệm mua hàng trên các trang thương mại điện tử.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ tháng 1/2021 đến tháng 5/2021; trong đó dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2020, và dữ liệu sơ cấp được thu thập chính thức từ tháng 3/2021 đến tháng 4/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm pháp lý, định nghĩa học thuật về thương mại điện tử và ba mô hình lý thuyết hành vi người tiêu dùng kinh điển:
- Khái niệm thương mại điện tử: Trích dẫn theo định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Nghị định số 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về Thương mại điện tử, cùng các nghiên cứu của Applegate và cộng sự (1996), Wigand (1997), Kalakota và Whinston (1997). Tác giả phân loại 4 hình thức giao dịch cơ bản gồm B2C (Doanh nghiệp với Người tiêu dùng), B2B (Doanh nghiệp với Doanh nghiệp), C2C (Người tiêu dùng với Người tiêu dùng) và C2B (Người tiêu dùng với Doanh nghiệp).
- Ý định mua lại (Repurchase Intention): Tiếp cận theo Ajzen (1991), Hasan (2013), Jones và Sasser (1995), Kotler, Anderson và cộng sự (2004), Khalifa và cộng sự (2002, 2007), Chiu và cộng sự (2012) và Nemzow (1999), xác định ý định mua lại trực tuyến là hành vi tiếp tục sử dụng kênh thương mại điện tử để mua sắm sản phẩm lặp lại từ một doanh nghiệp hoặc một trang mạng cụ thể.
- Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) do Fishbein và Ajzen (1975) đề xuất, giải thích hành vi thông qua hai tiền đề chính là thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan.
- Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Theory of Planned Behavior) của Ajzen (1985, 1988, 1991), bổ sung thêm thành tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình TRA.
- Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model) của Davis (1986, 1989), xác định hai nhân tố quyết định thái độ và ý định sử dụng hệ thống là tính hữu ích cảm nhận (Perceived Usefulness) và tính dễ sử dụng cảm nhận (Perceived Ease of Use).
Về nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tổng hợp các mô hình trong và ngoài nước:
- Nghiên cứu nước ngoài: Nelson và cộng sự (2011) tại Malaysia (kiểm định 8 biến: giá trị cảm nhận, nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức sự hữu ích, danh tiếng công ty, sự riêng tư, niềm tin, sự tin cậy, chức năng); Kashif Abrar và cộng sự (2017) (nghiên cứu bầu không khí cửa hàng trực tuyến, thông tin tùy chỉnh, sự hài lòng của khách hàng); Chao-Min Chiu và cộng sự (2009) tại Đài Loan trên 360 khách hàng của PCHome (nghiên cứu niềm tin, sự thích thú, nhận thức sự hữu ích, dễ dàng nhận thức sử dụng).
- Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Hương Duy (2019) tại TP.HCM (chỉ ra 5 yếu tố: niềm tin, giá trị cảm nhận, danh tiếng website, rủi ro cảm nhận, khả dụng cảm nhận); Hà Thị Phụng Thu (2019) tại TP.HCM (7 yếu tố: nhận thức rủi ro, tính hữu dụng, danh tiếng website, giá cả cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, giá trị cảm nhận, niềm tin); Nguyễn Ngọc Hiếu và Trần Thị Thanh Phương (2020) trong ngành hàng thời trang trực tuyến (6 yếu tố, trong đó sự hài lòng và sự tin cậy tác động mạnh nhất); Từ Thị Hải Yến (2015) tại Đại học Đông Á; Yulihasri và cộng sự (2011).
Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc là "Ý định mua lại trực tuyến":
- Giá trị cảm nhận (Giả thuyết H1 (+), theo Schechter (1984), Zeithaml (1988), Louis (1992))
- Sự hài lòng của khách hàng (Giả thuyết H2 (+), theo Yang & Peterson (2004), Chen & Tsai (2008), Kotler (2001), Wen và cộng sự (2011), Yen và Lu (2008))
- Danh tiếng doanh nghiệp (Giả thuyết H3 (+), theo Hess (2008), Herbig và Milewicz (1995), Jin và cộng sự (2009), Lee và Shavitt (2006))
- Dễ dàng nhận thức sử dụng (Giả thuyết H4 (+), theo Pearson và cộng sự (2007), Lee và Lin (2005))
- Niềm tin (Giả thuyết H5 (+), theo Pavlou và Fygenson (2006), Chiu và cộng sự (2009), Eisingerich và Bell (2007))
Phương pháp nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn định lượng:
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Thực hiện khảo sát thử nghiệm trên mẫu n = 50 đối tượng nhằm kiểm tra độ tin cậy của các biến quan sát và hoàn thiện cấu trúc câu hỏi.
- Nghiên cứu định lượng chính thức: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác xuất (chọn mẫu thuận tiện) thông qua việc gửi phiếu khảo sát trực tuyến qua Facebook, Zalo kết hợp phát bảng hỏi trực tiếp. Kích thước mẫu tuân thủ quy tắc của Hair và cộng sự (1998) với cỡ mẫu tối thiểu gấp 5 lần số biến quan sát ($N \ge 25 \times 5 = 125$) và công thức của Tabachnick và Fidell (2007) ($N \ge 50 + 8p$, với $p$ là số biến độc lập). Tác giả phát ra 200 bảng hỏi và thu về 171 phiếu khảo sát hợp lệ làm dữ liệu phân tích.
- Đo lường: Sử dụng thang đo khoảng Likert 5 mức độ (từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý) cho 25 biến quan sát (21 biến độc lập và 3 biến phụ thuộc được liệt kê trong bảng thang đo).
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 25.0: Thống kê mô tả (tần số, giá trị trung bình Mean); Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (chấp nhận hệ số $\ge 0.6$ và hệ số tương quan biến tổng Corrected Item-Total Correlation $\ge 0.3$); Phân tích nhân tố khám phá EFA (điều kiện KMO từ 0.5 đến 1.0, kiểm định Bartlett có Sig. < 0.05, Factor Loading > 0.5, tổng phương sai trích Total Variance Explained > 50%); Phân tích hệ số tương quan Pearson ($r$); Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến; Kiểm định Independent-samples T-test và One-way ANOVA để kiểm tra sự khác biệt nhân khẩu học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 1 giới thiệu tổng thể đề tài nghiên cứu bao gồm: tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu hành vi mua lại trên các trang thương mại điện tử; xác định rõ mục tiêu tổng quát và 3 mục tiêu cụ thể; thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu định hướng; xác định đối tượng nghiên cứu (nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua lại), đối tượng khảo sát (người tiêu dùng đã mua sắm trực tuyến) và giới hạn phạm vi tại TP.HCM trong khoảng thời gian từ tháng 1/2021 đến tháng 5/2021; khái quát phương pháp nghiên cứu 2 giai đoạn (sơ bộ n = 50 và chính thức n = 171); công bố bố cục khóa luận gồm 5 chương cùng ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 2 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm tiền đề. Tác giả làm rõ bản chất của ý định mua lại, các khái niệm và 4 hình thức thương mại điện tử (B2C, B2B, C2C, C2B), cùng 3 mô hình nền tảng: TRA (Fishbein & Ajzen, 1975), TPB (Ajzen, 1985, 1991) và TAM (Davis, 1986). Chương này tổng hợp kết quả của 3 nghiên cứu quốc tế (Nelson và cộng sự, 2011; Kashif Abrar và cộng sự, 2017; Chao-Min Chiu và cộng sự, 2009) và 3 nghiên cứu tại Việt Nam (Nguyễn Hương Duy, 2019; Hà Thị Phụng Thu, 2019; Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương, 2020), bổ sung các tài liệu của Từ Thị Hải Yến (2015) và Yulihasri và cộng sự (2011). Dựa trên bảng tổng hợp tần suất xuất hiện của các biến, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 5 biến độc lập (Giá trị cảm nhận, Sự hài lòng của khách hàng, Danh tiếng doanh nghiệp, Dễ dàng nhận thức sử dụng, Niềm tin) và xây dựng 5 giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H5.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu 8 bước: từ xác định đề tài, xây dựng cơ sở lý thuyết, lập mô hình, khảo sát sơ bộ (n = 50), điều chỉnh bảng hỏi, khảo sát chính thức (n = 171), xử lý số liệu trên SPSS 25.0 đến viết báo cáo. Tác giả xây dựng Bảng 3.1 quy định chi tiết 25 biến quan sát kế thừa từ Nelson và cộng sự (2011) và Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020):
| Tên thang đo |
Ký hiệu biến |
Nội dung biến quan sát |
Nguồn tham khảo |
| Giá trị cảm nhận |
GTCN1 |
Mua sắm trực tuyến giúp tôi mua hàng dễ dàng hơn ở mọi lúc và mọi nơi. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
GTCN2 |
Tôi sẽ mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử với điều kiện chúng mang lại giá trị xứng đáng đồng tiền. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
GTCN3 |
Việc tìm kiếm sản phẩm dễ dàng, thời gian đặt hàng nhanh chóng, chăm sóc sau bán hàng tận tình khi mua hàng trên trang thương mại điện tử thu hút tôi mua lại sản phẩm. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
GTCN4 |
Tôi sẽ mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử nếu cửa hàng trực tuyến đảm bảo hoàn lại tiền hoặc chính sách trao đổi. |
Nelson và cộng sự (2011) |
| Sự hài lòng của khách hàng |
HL1 |
Tôi rất hài lòng với trải nghiệm mua sắm trực tuyến tổng thể của mình. |
Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020) |
|
HL2 |
Tôi cảm thấy dễ chịu khi trải nghiệm mua sắm sản phẩm trên trang thương mại điện tử. |
Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020) |
|
HL3 |
Tôi rất vui mừng với trải nghiệm mua sắm trực tuyến của mình. |
Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020) |
|
HL4 |
Tôi nghĩ lựa chọn mua sản phẩm từ trang thương mại điện tử này là lựa chọn hợp lý. |
Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020) |
| Danh tiếng doanh nghiệp |
DT1 |
Tôi so sánh hình ảnh của các trang thương mại điện tử trước khi quyết định mua lại. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
DT2 |
Tôi sẽ mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử, nếu các doanh nghiệp cung cấp một trang web uy tín. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
DT3 |
Tôi sẽ mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử, nếu bạn của tôi giới thiệu các trang thương mại điện tử đó. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
DT4 |
Tôi sẽ mua lại các sản phẩm từ trang thương mại điện tử nếu họ tiếp tục cung cấp các sản phẩm chất lượng. |
Nelson và cộng sự (2011) |
| Dễ dàng nhận thức sử dụng |
NTSD1 |
Trang thương mại điện tử vận hành một cách dễ dàng. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
NTSD2 |
Trang thương mại điện tử có thể tương tác linh hoạt. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
NTSD3 |
Các trang thương mại điện tử được thiết kế dễ sử dụng. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
NTSD4 |
Mua sắm sản phẩm trên các trang thương mại điện tử giúp tôi dễ dàng so sánh sản phẩm của các doanh nghiệp. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
NTSD5 |
Trang thương mại điện tử cung cấp nhiều kênh thanh toán giúp tôi mua sắm trực tuyến dễ dàng. |
Nelson và cộng sự (2011) |
| Niềm tin |
NT1 |
Tôi tin rằng trang thương mại điện tử sẽ cung cấp sản phẩm đúng như cam kết. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
NT2 |
Tôi tin rằng trang thương mại điện tử uy tín sẽ thu hút tôi mua lại các sản phẩm thường xuyên hơn. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
NT3 |
Tôi tin rằng tôi sẽ mua lại các sản phẩm trên các trang thương mại điện tử khi các điều khoản và điều kiện mua hàng rõ ràng. |
Nelson và cộng sự (2011) |
|
NT4 |
Tôi tin rằng thông tin sản phẩm cung cấp là chính xác. |
Nelson và cộng sự (2011) |
| Ý định mua lại trực tuyến |
YĐML1 |
Nếu mua lại sản phẩm một lần nữa, tôi sẽ mua từ trang thương mại điện tử đã mua trước đó. |
Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020) |
|
YĐML2 |
Tôi sẽ sử dụng trang thương mại điện tử này cho lần mua sắm tiếp theo. |
Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020) |
|
YĐML3 |
Tôi sẽ truy cập vào trang thương mại điện tử này trong thời gian tới. |
Nguyễn Ngọc Hiếu & Trần Thị Thanh Phương (2020) |
Chương 3 cũng thiết lập hệ thống chuẩn mực kiểm định thống kê theo các tài liệu phương pháp luận: ngưỡng phân loại điểm Mean thang đo 5 mức độ (1.00 - 1.80: Hoàn toàn không đồng ý; 1.81 - 2.60: Không đồng ý; 2.61 - 3.40: Bình thường; 3.41 - 4.20: Đồng ý; 4.21 - 5.00: Hoàn toàn đồng ý); tiêu chí đánh giá Cronbach's Alpha và tương quan biến tổng của Hair và cộng sự (2006); các tiêu chuẩn EFA của Hair và cộng sự (1998, 2009); tiêu chuẩn phân loại hệ số tương quan Pearson theo Andy Field (2009); và nguyên lý mô hình hồi quy đa biến.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 phản ánh toàn bộ kết quả phân tích định lượng từ 171 mẫu khảo sát hợp lệ. Nội dung bao gồm:
- Thống kê mô tả các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập) và thực trạng các trang thương mại điện tử được truy cập thường xuyên.
- Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha cho từng thang đo biến độc lập (Giá trị cảm nhận, Sự hài lòng của khách hàng, Danh tiếng doanh nghiệp, Dễ dàng nhận thức sử dụng, Niềm tin) và thang đo biến phụ thuộc (Ý định mua lại trực tuyến).
- Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA: kiểm định chỉ số KMO, kiểm định Barlett, tổng phương sai trích và ma trận xoay nhân tố (thực hiện chạy lần 2 đối với biến độc lập).
- Phân tích tương quan hệ số Pearson giữa các biến nghiên cứu nhằm xác định mối liên hệ tuyến tính trước khi đưa vào hồi quy.
- Kết quả phân tích hồi quy đa biến, kiểm định độ phù hợp của mô hình ($R^2$, kiểm định ANOVA), kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số VIF, xác định tầm quan trọng của từng biến độc lập theo tỷ lệ phần trăm và tiến hành kiểm định các giả thuyết. Kết quả hồi quy xác nhận có 3 nhân tố có ý nghĩa thống kê tác động đến ý định mua lại trực tuyến: "Dễ dàng nhận thức sử dụng", "Niềm tin" và "Giá trị cảm nhận".
- Kiểm định Independent-samples T-test và One-way ANOVA: Kết quả kiểm tra sự khác biệt theo giới tính (kiểm định T-test), độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và thu nhập (thông qua kiểm định phương sai đồng nhất Levene Test và phân tích ANOVA). Tác giả xác định không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ đối với ý định mua lại.
Chương 5: Hàm ý quản trị và kết luận
Chương 5 tóm tắt các phát hiện cốt lõi từ kết quả phân tích thống kê và đưa ra các đề xuất hàm ý quản trị ứng dụng thực tiễn cho các doanh nghiệp thương mại điện tử. Dựa trên giá trị trung bình và hệ số hồi quy của 3 nhân tố có tác động thực tế, tác giả chia hàm ý quản trị thành 3 nhóm giải pháp tương ứng:
- Đề xuất hàm ý quản trị nhóm nhân tố "Dễ dàng nhận thức sử dụng" (căn cứ vào Bảng 5.1 về giá trị trung bình của nhóm nhân tố này).
- Đề xuất hàm ý quản trị nhóm nhân tố "Niềm tin" (căn cứ vào Bảng 5.2 về giá trị trung bình của nhóm nhân tố này).
- Đề xuất hàm ý quản trị nhóm nhân tố "Giá trị cảm nhận" (căn cứ vào Bảng 5.3 về giá trị trung bình của nhóm nhân tố này).
Tác giả cũng giải trình việc không đề xuất hàm ý quản trị đối với các yếu tố nhân khẩu học (như giới tính) do kết quả kiểm định T-test và ANOVA không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã kiểm định thực nghiệm mô hình nghiên cứu trên tập dữ liệu gồm 171 mẫu khảo sát hợp lệ từ người tiêu dùng đã có trải nghiệm mua sắm trên các trang thương mại điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các kết quả cụ thể bao gồm:
- Về mô hình hồi quy: Mặc dù mô hình đề xuất ban đầu bao gồm 5 nhân tố độc lập (Giá trị cảm nhận, Sự hài lòng của khách hàng, Danh tiếng doanh nghiệp, Dễ dàng nhận thức sử dụng, Niềm tin), quá trình phân tích định lượng (kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, tương quan Pearson và hồi quy đa biến trên SPSS 25.0) cho thấy chỉ có 3 nhân tố thực sự tác động có ý nghĩa thống kê đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại TP.HCM, bao gồm:
- Dễ dàng nhận thức sử dụng
- Niềm tin
- Giá trị cảm nhận
- Về kiểm định khác biệt nhân khẩu học: Kết quả kiểm định Independent-samples T-test và kiểm định One-way ANOVA cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định mua lại giữa các nhóm giới tính (nam và nữ) cũng như theo độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và thu nhập.
Các giải pháp và hàm ý quản trị được tác giả đề xuất cho các doanh nghiệp thương mại điện tử tập trung trực tiếp vào 3 nhóm nhân tố tác động:
- Nhóm nhân tố "Dễ dàng nhận thức sử dụng": Doanh nghiệp cần tối ưu hóa giao diện trang web và ứng dụng di động để đảm bảo việc vận hành đơn giản, tương tác linh hoạt; thiết kế các tính năng hỗ trợ người tiêu dùng dễ dàng tìm kiếm và so sánh sản phẩm giữa các nhà cung cấp; tích hợp đa dạng các kênh thanh toán an toàn, thuận tiện.
- Nhóm nhân tố "Niềm tin": Nâng cao tính chính xác và trung thực của thông tin sản phẩm đăng tải; xây dựng uy tín bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ đúng cam kết; công khai rõ ràng, minh bạch các điều khoản và điều kiện giao dịch mua bán để tạo sự an tâm cho người mua.
- Nhóm nhân tố "Giá trị cảm nhận": Doanh nghiệp cần đảm bảo chất lượng hàng hóa tương xứng với giá tiền khách hàng bỏ ra; tối ưu hóa thời gian đặt và giao hàng; nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng sau bán hàng; thiết lập chính sách đổi trả hoặc hoàn tiền rõ ràng và đảm bảo thực thi khi có sự cố phát sinh.
Về đóng góp của nghiên cứu:
- Ý nghĩa lý thuyết: Khóa luận đóng góp tài liệu tham khảo thực nghiệm về việc vận dụng các lý thuyết hành vi người tiêu dùng (TRA, TPB, TAM) vào bối cảnh thương mại điện tử tại TP.HCM, cung cấp cơ sở dữ liệu và thang đo đã qua kiểm định cho các sinh viên và học viên nghiên cứu đề tài tương tự trong tương lai.
- Ý nghĩa thực tế: Giúp các doanh nghiệp, đơn vị bán hàng trên sàn thương mại điện tử thấu hiểu nhu cầu và tâm lý của người tiêu dùng trên địa bàn TP.HCM; từ đó định hình các giải pháp nâng cao tính dễ dùng, củng cố niềm tin và gia tăng giá trị cảm nhận nhằm giữ chân khách hàng cũ và thúc đẩy hành vi mua lặp lại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nghiên cứu được ghi nhận từ phạm vi thực hiện và biên bản góp ý của hội đồng đánh giá:
- Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác xuất (chọn mẫu thuận tiện) với kích thước mẫu thu về đạt 171 phiếu hợp lệ. Quy mô mẫu này đạt mức tối thiểu theo các tiêu chuẩn phân tích nhưng chưa đủ lớn để mang tính đại diện cao cho toàn bộ tổng thể người tiêu dùng tại một đô thị lớn như TP.HCM.
- Kênh khảo sát: Khảo sát sơ cấp chủ yếu được thu thập trực tuyến qua mạng xã hội (Facebook, Zalo) kết hợp phát trực tiếp trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 3/2021 đến tháng 4/2021), do đó có thể chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm tiếp cận của tệp người dùng quen thuộc trên các kênh này.
- Phạm vi địa lý: Không gian nghiên cứu chỉ giới hạn trên địa bàn TP.HCM, chưa thực hiện so sánh đối chiếu với các tỉnh, thành phố khác hoặc trên phạm vi toàn quốc.
- Mô hình nghiên cứu: Hai nhân tố trong mô hình đề xuất ban đầu (Sự hài lòng của khách hàng và Danh tiếng doanh nghiệp) không xuất hiện trong phương trình hồi quy cuối cùng. Đồng thời, mô hình mới chỉ giải thích được một phần biến thiên của ý định mua lại; các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các biến tiềm năng khác như dịch vụ hậu cần (logistics), rủi ro cảm nhận, ảnh hưởng xã hội hoặc các chương trình khuyến mãi.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Quản trị Kinh doanh, Marketing, Thương mại điện tử và Hệ thống thông tin quản lý khi tìm kiếm tài liệu tham khảo về quy trình triển khai đề tài nghiên cứu định lượng hành vi người tiêu dùng trực tuyến.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc ứng dụng mô hình TAM, TRA, TPB và xây dựng hệ thống thang đo Likert đánh giá ý định mua sắm lặp lại. Phần thiết kế bảng hỏi và bảng tổng hợp 25 biến quan sát (Bảng 3.1) tại Chương 3 là tài liệu đáng tham khảo để kế thừa thang đo chuẩn hóa.
- Các cá nhân, chủ cửa hàng và nhà quản trị doanh nghiệp đang kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử tại thị trường Việt Nam muốn tham khảo các chỉ số đo lường mức độ dễ sử dụng, uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận để xây dựng chiến lược trải nghiệm khách hàng.
Câu hỏi thường gặp
Kích thước mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu của đề tài được tiến hành như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác xuất (chọn mẫu thuận tiện). Tác giả tiến hành qua hai giai đoạn: khảo sát sơ bộ với kích thước mẫu n = 50 người, và khảo sát chính thức phát ra 200 bảng hỏi qua kênh trực tuyến (Facebook, Zalo) cùng hình thức phát trực tiếp tại TP.HCM. Kết quả thu về 171 phiếu khảo sát hợp lệ để đưa vào phân tích định lượng trên phần mềm SPSS 25.0.
Những mô hình lý thuyết nền tảng nào được tác giả sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu?
Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên ba mô hình kinh điển về tâm lý và hành vi: Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Fishbein & Ajzen, 1975), Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Ajzen, 1985, 1988, 1991), và Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Davis, 1986, 1989; Ajzen & Fishbein, 1980). Ngoài ra, tác giả kế thừa mô hình đo lường của Nelson và cộng sự (2011), Chao-Min Chiu và cộng sự (2009), Nguyễn Ngọc Hiếu và Trần Thị Thanh Phương (2020).
Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến ý định mua lại trên các trang thương mại điện tử theo kết quả hồi quy?
Sau khi thực hiện các kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, tương quan Pearson và phân tích hồi quy đa biến trên SPSS 25.0 từ 5 nhân tố đề xuất ban đầu, kết quả nghiên cứu xác nhận có 3 nhân tố tác động có ý nghĩa thống kê đến ý định mua lại sản phẩm trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại TP.HCM: "Dễ dàng nhận thức sử dụng", "Niềm tin", và "Giá trị cảm nhận".
Kết quả kiểm định sự khác biệt nhân khẩu học (T-test và ANOVA) đối với ý định mua lại cho thấy điều gì?
Kết quả kiểm định Independent-samples T-test và One-way ANOVA cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định mua lại giữa các nhóm giới tính (nam và nữ) cũng như giữa các nhóm độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và thu nhập của người tiêu dùng được khảo sát. Do đó, tác giả không đề xuất các hàm ý quản trị phân hóa theo giới tính.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Mỹ Linh đã hoàn thành việc nhận diện và đo lường các nhân tố tác động đến ý định mua lại trên các trang thương mại điện tử của người tiêu dùng tại TP.HCM thông qua quy trình nghiên cứu định lượng chặt chẽ với 171 mẫu hợp lệ. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy ba nhân tố cốt lõi chi phối quyết định mua lại là dễ dàng nhận thức sử dụng, niềm tin và giá trị cảm nhận, đồng thời không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính. Công trình cung cấp hệ thống thang đo thực nghiệm có độ tin cậy cùng các hàm ý quản trị thiết thực, hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại điện tử tối ưu hóa giao diện, nâng cao uy tín cam kết và hoàn thiện chính sách hậu mãi để giữ chân khách hàng bền vững.