CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu chè Việt Nam với phương pháp tiếp cận bằng mô hình trọng lực. Do đó, trong phần này, tác giả tổng quan các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu chè và nông sản, đặc biệt là các nghiên cứu tiếp cận bằng mô hình trọng lực. Đồng thời, thực hiện tổng quan ứng dụng mô hình này trong nghiên cứu thương mại nông sản và chè nhằm phân tích, đánh giá cách ứng dụng mô hình này trong các nghiên cứu.
Từ đó, rút ra kết luận về khoảng trống và hướng đi của đề tài. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới dòng chảy thương mại xuất khẩu nông sản 1. Nghiên cứu của nước ngoài Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu nông sản của các quốc gia trên thế giới ra thị trường quốc tế. Một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: Nghiên cứu sớm nhất của Sevela (2002) [2] nhằm phân tích tác động của các nhân tố đến quy mô xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Cộng hòa Séc.
Bài báo này sử dụng dữ liệu chéo và hồi quy OLS cổ điển thông thường. Kết quả đã chỉ ra được 3 nhân tố là tổng thu nhập quốc dân (Gross national income – GNI), GNI bình quân đầu người, khoảng cách địa lý có tác động đến sự thay đổi của quy mô xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Mosikari và Eita (2016) [3] xem xét các yếu tố quyết định xuất khẩu nông, lâm sản và thủy sản giữa các nước Nam Phi và SADC bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình trọng lực. Bài báo này sử dụng dữ liệu hàng năm từ năm 2005 đến năm 2014.
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP) của nhà xuất khẩu, dân số của nhà nhập khẩu, lạm phát Nam Phi, tỷ giá hối đoái có mối liên hệ tiêu cực với xuất khẩu nông, lâm và ngư nghiệp của Nam Phi. GDP của nhà nhập khẩu và dân số của nhà xuất khẩu có tác động tích cực đến xuất khẩu nông, lâm và thủy sản của Nam Phi. Các tác giả chỉ ra rằng sự gia tăng GDP của Nam Phi cho thấy khả năng tự cung tự cấp và nhu cầu xuất khẩu ít hơn. Sự ổn định về giá và tỷ giá hối đoái có ý nghĩa quan trọng đối với xuất khẩu các sản phẩm này.
Tương tự, Sotja và cộng sự (2016) [4] đã phân tích các yếu tố quyết định việc xuất khẩu đường từ Swaziland sang các đối tác thương mại của họ bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình trọng lực. Nghiên cứu sử dụng tập dữ liệu bảng cho giai đoạn 2001 đến 2013. Kết quả cho thấy GDP của Swaziland, GDP 6 luan an của nhà nhập khẩu, diện tích đất của nhà nhập khẩu và ngôn ngữ chung chính thức có tác động tích cực đáng kể đến xuất khẩu đường của Swaziland. Nghiên cứu cũng tiết lộ rằng việc thành lập các khối thương mại COMESA và EU đã có những tác động tích cực đáng kể đến xuất khẩu đường của Swaziland.
Mặt khác, dân số nhập khẩu, chính sách mở cửa thương mại của Swaziland và khoảng cách giữa Swaziland và các thủ đô của đối tác thương mại có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến dòng xuất khẩu đường của Swaziland. Còn Kushtrim và cộng sự (2016) [5] phân tích các yếu tố quyết định chính đến xuất khẩu nông sản của Albania bằng mô hình trọng lực tăng cường để xem xét các biến trong mô hình trọng lực đối với cho dòng xuất khẩu của Albania trong giai đoạn 1996 - 2013. Với kỹ thuật hồi quy tối đa hóa khả năng (Poisson Pseudo Maximum Likelbility - PPML), các phát hiện chính cho thấy dòng xuất khẩu nông sản tăng lên khi quy mô kinh tế ngày càng tăng. Đồng thời, nhu cầu trong nước tăng do dân số tăng dẫn đến giảm xuất khẩu nông sản.
Hơn nữa, các luồng xuất khẩu nông sản được xác định bởi chi phí vận chuyển thấp (khoảng cách), sự gần kề (có chung biên giới) và sự tương đồng về ngôn ngữ. Sự hiện diện của người Albania Diaspora cư trú tại các nước nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng xuất khẩu. Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy sự thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động tích cực, trong khi khoảng cách thể chế song phương có tác động giảm dần đối với xuất khẩu nông sản của Albania. Bên cạnh đó, Atif và cộng sự (2016) [6] đánh giá các yếu tố quyết định chính đến xuất khẩu nông sản của Pakistan bằng cách áp dụng mô hình trọng lực với hiệu ứng ngẫu nhiên trong giai đoạn 1995–2014 cho một mẫu gồm 63 quốc gia.
Các ước tính chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái song phương cũng như thuế quan ảnh hưởng đến xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Nghiên cứu cũng đã kết hợp ảnh hưởng của biên giới chung, văn hóa chung, lịch sử thuộc địa và các thỏa thuận thương mại ưu đãi bằng cách đưa vào các biến giả tương ứng của chúng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phân tích liệu có bất kỳ tiềm năng xuất khẩu nào chưa được khai thác giữa Pakistan và các đối tác thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp hay không. Kết quả cho thấy Pakistan có tiềm năng xuất khẩu lớn với các nước láng giềng, Trung Đông và châu Âu.
Kết quả cho thấy xuất khẩu nông sản nội vùng EAC phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm GDP của nhà xuất khẩu, GDP của nhà nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, khoảng cách 7 luan an giữa các trung tâm kinh tế, sự tương đồng ngôn ngữ, biên giới chung và dân số của nhà xuất khẩu. Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị rằng Ban thư ký EAC và các chính phủ tương ứng trong EAC nên giảm chênh lệch giá trị tiền tệ giữa các quốc gia thành viên như một phương tiện thúc đẩy thương mại nông nghiệp nội khu, cần hài hòa tiền tệ để thúc đẩy đáng kể thương mại nông nghiệp trong khu vực, các quốc gia thành viên EAC cũng nên tăng cường tự do hóa biên giới. Artículos (2018) [8] nghiên cứu các yếu tố quyết định xuất khẩu nông nghiệp Nicaragua bằng cách xây dựng mô hình trọng lực thương mại và sau đó thực hiện hồi quy theo phương pháp Bình phương nhỏ nhất (OLS) kết hợp công cụ ước lượng ma trận hiệp phương sai nhất quán để hiệu chỉnh các hiệu ứng sai lệch phương sai và tự tương quan. Dữ liệu bao gồm 12 quốc gia trong 10 năm, trong đó tám quốc gia đã ký Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Nicaragua và bốn quốc gia chưa ký Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Nicaragua.
Các biến số làm tăng đáng kể dòng xuất khẩu nông sản của Nicaragua là: dân số của bộ phận thương mại Nicaragua, tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người của Nicaragua (GDP pc), tỷ giá hối đoái thực (RER) và GDP của các đối tác thương mại Nicaragua. Tuy nhiên, biến khoảng cách hóa ra tác động tiêu cực đáng kể. Các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) chủ yếu có những tác động tịch cực khá rõ ràng. Mới đây, Sokvibol (2019) [9] nhằm xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Campuchia thông qua việc áp dụng mô hình trọng lực với kỹ thuật ước tính bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS), tối đa hóa khả năng (PPML) và chọn mẫu Heckman, dựa trên dựa trên dữ liệu bảng trong khoảng thời gian 22 năm (1995–2016) và tổng số 40 đối tác nhập khẩu được lựa chọn.
Kết quả cho thấy mối quan hệ lịch sử, chính sách tỷ giá hối đoái và cải cách ruộng đất nông nghiệp đã thúc đẩy xuất khẩu gạo. Tác giả đã nhấn mạnh việc mở rộng xuất khẩu sang các đối tác thương mại, đặc biệt là EU, Trung Quốc và các nước ASEAN. Với tư cách là một vấn đề kinh tế vĩ mô và yếu tố cản trở, suy thoái kinh tế đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt hơn nữa. Shahriar (2019) [10] tìm ra những yếu tố quyết định chính của dòng xuất khẩu thịt của Trung Quốc thông qua mô hình trọng lực cho một hàng hóa cụ thể.
Nghiên cứu này đã sử dụng một bộ dữ liệu trong 20 năm (1997-2016) cho xuất khẩu thịt lợn của Trung Quốc với 31 đối tác thương mại thường xuyên của mình để ước tính mô hình trọng lực hàng hóa cụ thể. Các phương pháp PPML và Heckman đồng thời được lựa chọn để ước tính. Kết quả cho thấy GDP, tỷ giá hối đoái, ngôn ngữ chung và diện tích đất nước là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến dòng chảy xuất khẩu thịt lợn của Trung Quốc. Hơn nữa, tư cách thành viên 8 luan an WTO của Trung Quốc, Sáng kiến "Vành đai và Con đường" và biên giới chung có tác động tích cực đáng kể.
Cũng tiếp cận bằng mô hình trọng lực, Wei Xu (2019) [11] phân tích thực nghiệm các luồng và hướng thương mại của quả kiwi ở 9 quốc gia trong 5 năm. Kết hợp các phương pháp ước lượng OLS, FE, RE, kết quả cho thấy các yếu tố chính ảnh hưởng đến xuất khẩu quả kiwi là quy mô nền kinh tế (GDP) và các thỏa thuận thể chế của các đối tác thương mại. Thị trường châu Âu và châu Mỹ là những quốc gia tiềm năng chính để xuất khẩu quả kiwi của Trung Quốc. Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thực phẩm nông nghiệp của Ba Lan sang các nước ngoài Liên minh Châu Âu, Sapa và Droždz (2019) [12] cũng đã tiếp cận bằng mô hình trọng lực.
Trong phân tích, tác giả sử dụng dữ liệu từ 2000-2016 bằng mô hình trọng lực. Biến phụ thuộc là xuất khẩu nông sản của Ba Lan sang các nước thứ ba, trong khi các biến số độc lập bao gồm GDP, khoảng cách địa lý giữa các đối tác, chênh lệch GDP bình quân đầu người của nhà xuất khẩu và nhập khẩu, giá trị gia tăng nông nghiệp, hiệp định thương mại ưu đãi và biến số mô tả liệu một quốc gia nhất định có phải là một quốc gia hậu xã hội chủ nghĩa hay không. Nghiên cứu xác nhận rằng, quy mô các nền kinh tế thể hiện trong GDP thu hút thương mại giữa các quốc gia, trong khi khoảng cách giữa các đối tác hạn chế nó. Tác động tích cực đến xuất khẩu nông sản của Ba Lan đã được xác nhận đối với giá trị gia tăng nông nghiệp của Ba Lan, các hiệp định thương mại ưu đãi giữa Liên minh châu Âu và các nước thứ ba.
Mặt khác, các nước xã hội chủ nghĩa với các nền kinh tế trải qua quá trình chuyển đổi kể từ những năm 1990 đã hạn chế xuất khẩu nông sản của Ba Lan.