đặt vấn đề như vậy, tác giả xem cảm giác là một giai đoạn sơ lược và khái niệm nhận thức chỉ mức độ hiểu biết rõ ràng hơn về sự vật, hiện tượng. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “ Nhận thức là một hoạt động chủ thể hướng vào đối tượng nhằm mục đích biết và hiểu đối tượng cũng như biết và hiểu chính mình,” … (tự nhận thức). Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm và hành động) nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ chặt chẽ với nhau và với các hiện tượng tâm lý khác. Nhận thức (perception) tức là tiến trình chọn lọc, diễn dịch, phân tích và hợp nhất các kích thích gây ra phản ứng ở các giác quan của chúng ta.
Theo Roberts Feldman: Nhận thức là tiến trình nhờ đó cảm giác được phân tích, diễn dịch và hợp nhất với các thông tin cảm giác khác. Ngày nay, đa số cho rằng nhận thức là một quá trình tiếp cận và tiến gần đến chân lý nhưng không ngừng ở mức độ nào, vì còn nhiều điều mà chúng ta chưa hiểu hết được, phải dần loại bỏ cái sai, không khớp với hiện thực và liên tục đi từ bước này sang bước khác để hoàn thiện hơn. Có thể nói nhận thức là hoạt động tích cực của chủ thể phản ánh hiện thực khách quan để thích ứng với nó hoặc cải tạo nó. Hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ thuộc tính bề ngoài: cảm tính, trực quan, riêng lẽ đến đối tượng trọn vẹn, ổn định, có ý nghĩa trong các quan hệ của nó, sau đến các thuộc tính bên trong, có tính quy luật ngày càng đi sâu vào bản chất của cả một lớp đối tượng, hiện tượng.
và cuối cùng từ đó trở về thực tiễn, thông qua các quá trình tâm lí như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ. Ở những giai đoạn phát triển nhất định thì học tập là hoạt động nhận thức chủ yếu. Các giai đoạn của quá trình nhận thức: Sống và hoạt động trong thế giới khách quan, con người phải nhận thức và thể hiện thái độ của mình với những sự vật hiện tượng xung quanh mình. Trong quá trình hoạt động của con người phải nhận thức cái bên ngoài và cái bên trong, cái cụ thể, khái quát, quy luật, … của sự vật hiện tượng.
Như vậy, nhận thức là một hoạt động tâm lý hết sức phức tạp, đa dạng và được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Người ta chia nhiều hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá trình (cảm giác và tri giác), nhận thức lý tính bao gồm (tư duy và tưởng tượng). Hai quá trình này phân tích, đánh giá, so sánh, … những gì đã nhận được trong quá trình cảm giác, tri giác và đang được lưu giữ trong trí nhớ nhằm mục đích tìm ra những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng thông qua những tính chất bên ngoài.
- Nhận thức cảm tính: là giai đoạn thấp nhất của hoạt động nhận thức, nó tương đối đơn giản, mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý thức. Ơ mức độ nhận thức cảm tính chúng ta chỉ biết được những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng khi chúng ta trực tiếp tác động vào các cơ quan cảm giác của chúng ta. Mỗi quá trình nhận thức giúp con người nhận thức được một mặt, một khía cạnh của thế giới khách quan. + Cảm giác giúp con người nhận biết được từng thuộc tính riêng lẻ và bề ngoài của sự vật.
Tri giác đem lại cho con người những tư liệu, kiến thức đầu tiên về sự vật hiện tượng khách quan, những tính chất bề ngoài khác nhau của chúng và tạo ra một hình ảnh về sự vật hiện tượng đó. Là mức độ nhận thức đầu tiên của con người, cảm giác có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức nói riêng và trong toàn bộ đời sống con người nói chung. Cảm giác là mối quan hệ trực tiếp giữa cơ thể với môi trường xung quanh. Do có mối quan hệ đó mà con người có khả năng thích nghi và định hướng với môi trường.
Cảm giác giúp chúng ta thu nhận tư liệu trực quan sinh động, cung cấp tài liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn. - Nhận thức lý tính: là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức của ý thức, đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát và thực tại khách quan. Là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Tư duy là một quá trình nhận thức xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề và diễn ra theo nhiều giai đoạn khác nhau, nhằm làm biến đổi những dữ liệu để tìm ra những thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng.
Tư duy là quá trình nhận thức ở mức độ cao, nhờ nó con người mới phản ánh được những cái mà nhận thức cảm giác không thể phản ánh được. Quá trình tư duy được chia thành 4 giai đoạn: + Giai đoạn 1: Nhận thức vấn đề: Thấy vấn đề trong một tình huống (trong đầu lập tức xuất hiện những câu hỏi). + Giai đoạn 2: Xuất hiện các hiện tượng: Từ bé đến giờ trải qua những hiện tượng gì (ví dụ có thấy người giật dây chuyền) thấy có người đi theo mình liên tưởng đến chuyện giật dây chuyền hoặc theo mình vì mình đẹp,… + Giai đoạn 3: Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết: Tư duy xong phải loại bỏ chọn một cái để làm giả thuyết. Sàng lọc liên tưởng rồi đề xuất một giả thuyết, giả thuyết có thể đúng có thể sai, phải vận dụng những kinh nghiệm và lý luận, những gì đã biết để hình thành giả thuyết.
+ Giai đoạn 4: Kiểm tra giả thuyết: Làm những việc để kiểm tra xem giả thuyết đó là đúng hay sai. Nhận thức vấn đề Xuất hiện các hiện tượng Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết Kiểm tra giả thuyết Khẳng định Phủ định Chính xác hóa Giả thuyết Hành động vấn đề tư duy mới 1. Các cấp độ nhận thức: Theo quan điểm của Bloom, nhận thức được phân loại thành 6 cấp độ từ thấp đến cao: Biết (knowledge), Thông hiều (Hiểu - comprehension), Áp dụng (vận dụng -application), phân tích (analysis), tổng hợp (synthesis) và đánh giá (evaluation). Tuy nhiên do điều kiện và có những hạn chế nhất định, người nghiên cứu chỉ tập trung vào 3 mức độ đầu tiên : Biết, Hiểu và Vận dụng - Biết (Knowledge): là khả năng ghi nhớ và nhận lại các thông tin đã được thu nhận.
Biết là mức độ nhận thức ở mức độ chỉ cần con người vận dụng trí nhớ mà chưa cần phải giải thích điều gì. Mức độ hiểu đòi hỏi chủ thể phải biết được ý nghĩa của tri thức, biết liên hệ với những điều đã có trong kinh nghiệm của họ. Hiểu là mức độ chủ thể nhận được thông tin nào đó thì có thể biến đổi thông tin đó sang một hình thức khác tương đương có ý nghĩa nhiều hơn với chính mình, có thể mở rộng sự hiểu biết vượt ra ngoài những gì được cung cấp trong thông tin đó. Có ba cách thể hiện mức độ hiểu: Chuyển dịch, là cách thức truyền đạt lại thông tin thu nhận được bằng một hình thức khác, thuật ngữ khác Giải thích, là cách thức sắp xếp lại thông tin theo một dạng mới, suy nghĩ về mối liên hệ giữa các vấn đề trong thông tin.
Sự giải thích thường được thể hiện qua cách suy diễn khái quát hóa hay tóm tắt lại Ngoại suy: là cách đánh giá, dự đoán dựa trên sự hiểu biết về những gì có liên qua đến thông tin bao gồm cả việc suy diễn ẩn dụ, các hệ quả… - Vận dụng (Application): là mức độ phải dựa trên sự thông hiểu nhưng ở mức cao hơn. Đó là khả năng chủ thể căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để lựa chọn, sử dụng các tri thức đã biết để giải quyết một vấn đề nào đó. Vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và kiến thức từ một sự việc này sang sự việc khác (sử dụng những hiểu biết trong hoàn cảnh mới) 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức: - Bẩm sinh di truyền: những đặc điểm cấu tạo cơ thể như hệ thần kinh, giác quan, cấu tạo của võ não,… ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của con người biểu hiện cụ thể ở khả năng nhận thức nhanh hay chậm.
- Môi trường sống: mỗi một con người đều sống trong một môi trường tự nhiên và môi trường tâm lý nhất định. Điều đó ảnh hưởng đến việc hình thành hệ thống định hướng giá trị ở mỗi cá nhân. Chính định hướng giá trị đó khiến các cá nhân sống trong những môi trường khác nhau có hiểu, nhìn nhận, đánh giá khác nhau. - Giới tính: ngay từ khi đứa trẻ chưa ý thức được giới tính của mình, thông qua cách cư xử, cách dạy dỗ của người lớn, vấn đề “bản sắc giới” đã tác động nhiều đến nhận thức của trẻ nói riêng và cuộc sống trẻ nói chung.
Trong quá trình phát triển và hoàn thiện về mặt nhân cách, vấn đề “bản sắc giới” đã tạo nên những khác biệt về suy nghĩ, đánh giá của nam và nữ trong nhiều vấn đề. - Lứa tuổi: tương ứng với mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau nhận thức của con người cũng có nhiều điểm khác nhau. Chính sự khác biệt đó tạo nên “khoảng cách giữa khác thế hệ”. Những kinh nghiệm sống trước đó của người lớn tuổi ảnh hưởng đến suy nghĩ của họ về một vấn đề trong cuộc sống.
Trong khi đó, những người trẻ tuổi hơn lại nhìn nhận vấn đề đó theo một chiều hướng khác thậm chí trái ngược. Định nghĩa Hiện nay có rất nhiều quan điểm về thái độ, người nghiên cứu chỉ xin đưa ra một số quan điểm tiêu biểu về thái độ. - Trong từ điển tiếng việt - 1999, thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc đối với sự việc nào đó. Thái độ hống hách.
Có thái độ niềm nở. Tỏ thái độ không bằng lòng. Giữ thái độ im lặng. - Thái độ là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình.
Xây dựng thái độ lao động mới. Thái độ học tập đúng đắn. Thái độ hoài nghi, thiếu tin tưởng, xác định thái độ. - Từ điển Tiếng Việt - 2000: Thái độ là cử chỉ, cách thức tỏ ra đối với việc gì.