mở đầu triều nhà Hồ được thành lập. Ông tiến hành xóa bỏ dần chế độ nhà nước quân chủ quý tộc, thay thế bằng nhà nước quân chủ phong kiến quan liêu phù hợp với xu thế của thời đại, Hồ Quý Ly tiến hành các biện pháp cải cách trên nhiều lĩnh vực. Trên lĩnh vực chính trị để củng cố quyền lực Hồ Quý Ly đã tiến hành các biện pháp cải cách giáo dục, thay đổi chế độ thi cử bỏ môn ám tả cổ văn thay bằng kỳ thi viết, làm tính. Không theo tiền lệ của các triều đại Tiền Lê, Lý, Trần phong tặng quan tước cho bọn quý tộc, tôn thất, chủ trương chọn những người có tư tưởng cải cách, đổi mới đất 15 nước nắm giữ những cương vị quan trọng.
Trong năm tháng ở ngôi, Hồ Quý Ly đã tổ chức kỳ thi Thái học sinh, tuyển chọn được 20 người trong đó có Nguyễn Trãi. Các kỳ thi được tiến hành liên tục trong 3 năm liền vào tháng 8 hàng năm, năm 1405 có 170 người thi đỗ được cơ cấu vào bộ máy quan chức dưới nhà Hồ. Thời kỳ này Phật giáo không còn chiếm ưu thế, để hạn chế Phật giáo Hồ Quý Ly bắt các nhà sư vào quân đội. Năm 1396 đã ra lệnh cho tất cả các sư sãi chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục, không được trốn tránh ở chùa.
Trong việc cai trị, quản lý nhà nước, ông tiến hành cải cách quy chế làm việc, bộ máy hành chính tương đối ổn định và chủ trương dùng Pháp trị để cai trị. Trên lĩnh vực quân sự, tăng cường lực lượng quân đội, chế tạo vũ khí, đóng chiến thuyền, xây dựng hệ thống thành lũy đặc biệt có thành nhà Hồ ở Thanh Hóa, cắm cọc ở các cửa sông lớn. Trên lĩnh vực kinh tế, năm 1397 ban hành chính sách hạn điền nhằm thủ tiêu chế độ điền trang, làm suy yếu thế lực của giai cấp quý tộc nhà Trần, hạn chế việc cướp đoạt ruộng đất của bọn quý tộc phong kiến, quy định “Đại vương và trưởng công chúa thì ruộng đất không có hạn chế; dần đến thứ dân thì số ruộng chỉ 10 mẫu thôi” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 2004a, trang 718). Năm 1401 Hồ Quý Ly đưa ra chính sách hạn nô quy định số gia nô cụ thể được dùng theo địa vị trong xã hội, số thừa phải sung công.
Trong tài chính, có chính sách phát hành tiền giấy năm 1396 thay cho tiền đồng, lập ra một hình thức tài chính mới trong lịch sử, vượt thời đại. Năm 1403 ra luật xử tội đối với những kẻ không tiêu tiền giấy, quy định: “xử tội những kẻ không tiêu tiền giấy, bán giá cao, đóng cửa hàng, bao che nhau” (Đại Việt sử ký toàn thư, 1998, tâp 2, trang 205). Cải cách của Hồ Quý Ly đã có một số đổi mới mạnh dạn, khá táo bạo và tích cực đã giải quyết được một số vấn đề thực tiễn đặt ra lúc bấy giờ trong xã hội Đại Việt, góp phần nào thiết lập sự ổn định trong xã hội. Điều đó cho chúng ta thấy Hồ Quý Ly là người có hoài bão, quyết tâm thực hiện cải cách giải quyết cuộc khủng hoảng xã hội, chứng tỏ ông là một tri thức yêu nước.
16 Tuy nhiên, do nóng vội, quá chú trọng Pháp trị một cách cực đoan, những cải cách của ông gây phản ứng lên quyền lợi tầng lớp quý tộc phong kiến, mâu thuẫn trong triều đình, mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội chưa giải quyết được, nhà Hồ chưa có cơ sở chính trị vững chắc, chưa tạo dựng được sự đoàn kết trong toàn dân tộc nên “trăm vạn người, trăm vạn lòng”, “lòng dân không theo”. Cùng với đó là thời gian, vật chất để thực thi, phát huy tốt những mặt tích cực của cuộc cải cách quá ngắn ngủi, đứng trước sự bao vây xâm lược của quân Minh (ngày 19/11/1406), dẫn đến sự thất bại của cuộc cải cách, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh trong 20 năm. Trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép: “Họ Hồ vô đạo, giặc thừa dịp ấy mà cướp nước ta. Tội ác tàn bạo của chúng, các ngươi cũng thấy cả rồi” (Đại Việt sử ký toàn thư, 1998, tập 2, trang 273).
Nguyễn Trãi cũng nhận xét: “Họ Hồ dùng gian trí để cướp lấy nước, lấy gian trí để hiếp lòng dân. Lệnh bảo sao ban bố mà mọi người oán nỗi sinh thương, việc di dân thi hành mà mọi người kêu bề thất sở… pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm. Chỉ vụ ích kỷ phì gia; chẳng nghĩ khổ dân hại nước. Giai đoạn này nước ta chưa kịp hết khủng hoảng đã rơi vào một cuộc khủng hoảng tiếp theo nghiêm trọng hơn làm cho nền chính trị - xã hội, kinh tế ngày càng suy thoái, với những chính sách tàn bạo của nhà Minh trong suốt 20 năm (1406 - 1427) đô hộ, với chính sách cai trị hà khắc, bóc lột nhân dân ta làm cho cuộc sống của nhân dân ngày càng khổ cực, nền kinh tế kiệt quệ, ruộng đất hoang hóa, người dân rời bỏ quê hương.
Như vậy, cùng với sự thống trị của nhà Minh, nước ta suy thoái đến tận cùng, mâu thuẫn đã đến đỉnh điểm cần có một chế độ mới lên thay thế, phá bỏ mọi xiềng xích tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) đã mở ra thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, tháng 4 - 1428 Lê Thái Tổ (1428 - 1433) chính thức lên ngôi vua, khôi phục nền độc lập dân 17 tộc. Tuy nhiên, ngay trong những năm đầu trị vị đất nước đã xuất hiện mầm mống khủng hoảng trong nội bộ triều đình, những người tham gia vào bộ máy chính quyền ở các cấp là các tướng lĩnh, công thần có công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, với những kiến thức, kinh nghiệm trong thời chiến thật sự chưa đủ để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Vua Lê Thái Tổ với uy tín lớn vẫn kiểm soát, quản lý được đội ngũ công thần, điều hành tốt mọi việc triều chính, nhưng với vai trò mới cũng không tránh khỏi những sai lầm, chính vì vậy, tiêu cực xảy ra.
Đến cuối đời vì quá lo đến việc nối nghiệp nên Lê Thái Tổ đã tin vào lời gièm pha của bọ nịnh thần Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trịnh Hoành Bá nên đã phạm sai lầm nghi ngờ các công thần, từng có công lần lượt bị khép tội. Tuy có sai lầm cuối đời nhưng không thể nào phủ nhận tài cao đức lớn, cùng với lòng yêu nước nồng nàn của mình đã đứng lên khởi nghĩa, xứng đáng là vị anh hùng của dân tộc. Sau này đến thời các vua Lê Thái Tông, Lê Bang Cơ, Lê Nghi Dân. Những cuộc nội chiến trong triều đình không ngừng xảy ra, quan lại thì tham quyền cố vị, mưa hại, giết oan công thần, những công thần có uy tín và quyền lực lần lượt bị giết như: Trần Nguyên Hãn, Lê Khả, Lê Sát, Nguyễn Trãi… mưu sát nhau để tranh giành địa vị, quyền lực đã làm cho tình hình chính trị diễn biến xấu đi, làm mất lòng dân.
Về Lê Thái Tổ trong Đại Việt sử ký toàn thư có viết: Thái Tổ từ khi lên ngôi đến nay, thi hành chính sự, thực rất khả quan, như ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học… cũng có thể gọi là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp. Song đa nghi, hiếu sát, đó là chỗ kém. Khi Lê Thái Tổ băng hà, Lê Thái Tông (1434 – 1442) ở ngôi trong 9 năm. Mọi rắc rối, mâu thuẫn trong triều đình bắt đầu từ khi vua phong tước kế vị cho con cả là Nghi Dân, do nghe lời xiểm ninh, say đắm nhan sắc của thứ phi Nguyễn Thị Anh, phế truất Nghi Dân thay vào đó là Bang Cơ con đẻ của bà.
18 Năm 1442, vua Lê Thái Tông đi thị sát việc binh ở Chí Linh, trên đường về khi thuyền đến Lệ Chi Viên trại Vải làng Đại Lại, vua mất đột ngột. Lợi dụng cơ hội đó, Nguyễn Thị Anh và bè đảng vua oan cho Nguyễn Thị Lộ cùng hộ giá, vợ của Nguyễn Trãi đã đầu độc vua. Nguyễn Trãi bị bắt và tru di tam tộc. Bang Cơ lên ngôi khi chỉ mới 2 tuổi, tự xưng là Lê Nhân Tông (1443 - 1459).
Khắc họa lại giai đoạn lịch sử này, sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép: Nhân Tông 2 tuổi lên ngôi Vua, Thái hậu Nguyễn Thị Anh gà mái gáy mai, buông rèm ngồi chốn thâm khuê. Kẻ thân yêu giữ việc, tệ hối lộ công khai. Tể thần như Lê Sũng, Lê Sát thì dốt đặc… Chưởng binh như Lê Điền, Lê Luyện thì mù tịt. Người giỏi như Trịnh Khả, Khắc Phục thì vội giết đi, người tài như Nguyễn Mộng Tuân thì đẩy vào vòng tai họa.
Bọn xiểm nịnh được tin dùng, bọn đao bút được bổ dụng. Mọi quyền hành nhiếp chính thuộc về Hoàng Thái hậu bà Nguyễn Thị Anh, từ đó nội bộ triều đình ngày càng mâu thuẫn, trở nên lục đục, nhiều phe, nhiều phái khác nhau tranh giành địa vị trong nội bộ, cũng là cơ hội cho kẻ thù, giặc ngoài lợi dụng. Vào tháng 10/1459, Lê Nghi Dân (1459) tiếm ngôi, giết Lê Nhân Tông. Theo lời bàn của Phan Phu Tiên: Nhân Tôn tuổi bé lên ngôi, trong có mẫu hậu buông rèm nghe việc, ngoài có đại thần cùng lòng giúp trị, cho nên trong khoảng 17 năm, thiên hạ thái bình yên ở vui nghiệp, đáng gọi là vua nhân từ.
Kịp đến cuối năm, bị bọn vô lại Đồn Ban xướng xuất khiến Lê Đức hầu Nghi Dân đêm bắc thang vào thành, lẻn vào cung cấm, vua và Tuyên từ hoàng thái hậu đều bị giết, đáng thương thay. Nghi Dân tự xưng làm vua ở ngôi trong 8 tháng, do tin dùng kẻ gian, nịnh thần, giết hại bề tôi cũ thay đổi pháp chế tổ tiên nên người người oán, trời giận. Tình hình chính trị xã hội từ vua đầu của thời Lê sơ cho đến thời của bọn loạn thần Nghi Dân ngày càng rối ren, cơ ngơi tổ tiên đứng trước 19 nguy cơ bị sụp đổ, để cứu vãn tình thế lúc bấy giờ. Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm, Trịnh Sái, Trịnh Đạt đã cùng nhau đem binh lật đổ triều đình, giết bọn nịnh thần, rồi phế Nghi Dân (tháng 6/1460) và rước Gia Vương Lê Tư Thành lên ngôi Vua, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử.