mở đầu thành tựu to lớn của khoa học công nghệ đạt đƣợc trong thế kỷ ánh sáng. Trong khi đó, ở Bắc Mỹ, sau thắng lợi của cuộc chiến tranh giành độc lập, chế độ thống trị của giai cấp tƣ sản đƣợc thiết lập ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ). Hàng hóa các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây và Mỹ tràn sang nƣớc ngoài ngày càng nhiều; ngƣợc lại vàng, bạc, nguyên liệu và nhiều sản vật từ các nƣớc khác cũng tới tấp chuyển về các nƣớc tƣ bản. Phƣơng Đông là nơi đông dân và tài nguyên phong phú đã trở thành hƣớng chủ yếu của các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây, đua nhau tràn sang không chỉ tìm thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa, mà còn là nơi để đầu tƣ và khai thác nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp “chính quốc”, vì mục đích phát triển siêu lợi nhuận của nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa.
Vận mệnh các nƣớc phƣơng Đông đứng trƣớc nguy cơ bị chủ nghĩa tƣ bản thực dân phƣơng Tây đe dọa, chiếm đoạt thị trƣờng. Ở châu Á, trƣớc mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến và giai cấp nông dân ngày càng trở nên sâu sắc, không thể dung hòa, chế độ phong kiến thống trị ở nhiều nƣớc bị lung lay, thậm chí tan rã. Trƣớc tình hình các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây tràn sang, mỗi nƣớc ở khu vực châu Á đều chịu tác động, ảnh hƣởng nhiều mặt, trong đó có vấn đề quân sự và tƣ tƣởng quân sự ở mức độ khác nhau. 8 Đầu thế kỉ XIX, ở Việt Nam, một triều đại phong kiến đã ra đời.
Đây là vƣơng triều cuối cùng trong lịch sử quân chủ chuyên chế Việt Nam - triều đại nhà Nguyễn. Năm 1802, sau khi đánh bại vƣơng triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, chính thức khôi phục quyền lực dòng họ, thống nhất đất nƣớc sau hơn hai thế kỷ chia cắt. Ông lấy niên hiệu là Gia Long, “Gia” trong Gia Định, “Long” trong Thăng Long. Năm 1804, đổi quốc hiệu là Việt Nam, sau đó Minh Mạng đổi là Đại Nam, kinh đô đặt tại Huế.
Nƣớc Đại Nam về danh nghĩa vẫn thần phục “thiên Triều” nhà Thanh nhƣng trên thực tế là một nhà nƣớc độc lập. Trƣớc tiên, về chính trị - xã hội, Gia Long đã xây dựng, kiện toàn hệ thống hành chính cũng nhƣ quan chế cho chính quyền mới. Vua Gia Long đã đặt lệ bốn không “hành chính không đặt tể tƣớng, thi cử không lấy trạng nguyên, trong cung không lập hoàng hậu, phong tƣớc không ban vƣơng cho ngƣời ngoại tộc” [11, tr. Về cơ bản hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ƣơng của triều đại này giống nhƣ các triều đại trƣớc đó: Vua vẫn có quyền tối thƣợng.
Có các cơ quan trợ giúp cho vua nhƣ có Văn thƣ phòng (năm 1829 đổi tên là nội các), chuyên về giấy tờ, văn thƣ và ghi chép. Tứ trụ Đại thần, đảm đƣơng những việc quân cơ đại sự (năm 1834 đổi tên thành Viện Cơ mật). Bên dƣới, triều đình lập ra Lục bộ là Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Thƣợng Thƣ đứng đầu mỗi bộ, có vai trò chỉ đạo các công việc chung của Nhà nƣớc.
Đô Sát viện (tức là Ngự Sử đài bao gồm 6 khoa) mang trọng trách thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một số sự vụ, phủ nội vụ trông coi các kho tàng, Quốc Tử giám quản lí giáo dục, Thái y viện thực hiện chữa bệnh và thuốc thang… cùng với một số ti và cục khác. Với cơ cấu bộ máy chính quyền nhƣ vậy, khi có việc quan trọng, vua sẽ giao cho triều thần cùng nhau bàn xét. Quan lại dù phẩm hàm 9 nhƣ nào đều đƣợc quyền đƣa ra ý kiến. Mọi việc phải có sự phê chuẩn của vua mới đƣợc thi hành.
Hoàng đế tuy ở ngôi vị cao nhất nhƣng không đƣợc phép làm điều sai trái. Các quan Giám sát Ngự sử có quyền can gián khi vua mắc phải sai lầm. Quan chức của triều đình chỉ chạm tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do dân tự trị. Ngƣời dân tự lựa chọn lấy ngƣời của mình mà cử ra quản trị mọi việc ở địa bàn sinh sống.
Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra để lo việc quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng. Đến thời Minh Mạng, không thể bỏ sót cuộc cải cách hành chính của ông trong các năm từ 1831 đến 1832. Vua quy đổi các tổng trấn, các dinh, trấn hợp nhất trong đơn vị tỉnh. Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh, và vùng còn lại ở phía Nam đƣợc chia làm 12 tỉnh.
Thừa Thiên - thủ phủ của kinh đô Phú Xuân, trực thuộc Trung ƣơng, toàn quốc bao gồm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên. Tổng đốc đứng đầu tỉnh (mỗi ngƣời phụ trách 2 - 3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dƣới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh). Có các cơ quan hỗ trợ nhƣ Bố Chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án Sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp, còn lãnh binh đảm đƣơng mặt quân sự. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ƣơng trực tiếp bổ nhiệm và thƣờng là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn.
Dƣới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do ngƣời dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, chăm lo đê điều và vấn đề trị an trong tổng. Hệ thống chính quyền có xu hƣớng giảm bớt quyền lực ở địa phƣơng, tập trung ở Trung ƣơng, cùng với cơ cấu hành chính của các tổng, xã đƣợc tổ chức khá chặt chẽ để triều đình dễ dàng quản lý và có đối sách kịp thời khi có sự cố.
Đối với miền núi và địa bàn sinh sống của những tộc ngƣời 10 thiểu số, Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa hành chính đồng loạt với miền xuôi. Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (các tù trƣởng của dân tộc thiểu số), để quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phƣơng làm Thổ tri các châu huyện. Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm một chức lƣu quan do ngƣời Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế nhƣ ở miền xuôi. Tuy nhiên, do phản ứng của ngƣời dân địa phƣơng đến đời vua Tự Đức đã bãi bỏ chế độ này.
Nhƣ vậy, về cơ bản triều đại nhà Nguyễn đã xây dựng đƣợc một bộ máy chính trị tập trung thống nhất, mạnh nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam cho đến lúc bấy giờ, chính thực dân Pháp đã ca ngợi sự phân chia hành chính khoa học của Minh Mạng. Và có thể thấy, bộ mặt hành chính ngày nay của Việt Nam không khác biệt nhiều so với thời nhà Nguyễn độc lập. Đặc biệt, từ thời nhà Nguyễn, vấn đề biển đảo đã đƣợc chú trọng bằng việc xác lập chủ quyền và thành lập các đội hải quân, trong đó đặc biệt chú trọng Hoàng Sa và Trƣờng Sa. Từ năm 1816, Gia Long đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình.
Dƣới triều Minh Mạng, ông cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Hải đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải đảm nhiệm nhiều trọng trách nhƣ khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và có nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Tháng 3 năm Ất Hợi (1815), triều Nguyễn điều động một đội thủy quân và đội Hoàng Sa, do Phạm Ánh làm Trƣởng đoàn, ra vùng đảo Hoàng Sa, khảo sát hải sản và thăm dò đƣờng biển thuộc vùng biển của nƣớc ta. Tiếp đó, đội thủy quân ở vùng Kinh đô cùng đội Hoàng Sa, dẫn binh thuyền ra vùng quần đảo Hoàng Sa tiếp tục khảo sát, nắm tình hình giao thông đƣờng thủy ở khu vực thuộc chủ quyền biển Việt Nam.
Tháng 4 năm Giáp Ngọ (1834), vua Minh Mạng ra lệnh cho Trƣơng Sĩ Phúc và 20 thủy quân ra quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi, vẽ bản đồ hoàn chỉnh để phục vụ cho việc nắm địa hình, tài nguyên và bố trí một bộ 11 phận lực lƣợng, thay phiên nhau phòng giữ vị trí chiến lƣợc quan trọng này. Tháng 4 năm Ất Mùi (1835), vua Minh Mạng lệnh cho Võ Văn Hùng ở đảo Lý Sơn (nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi) tuyển chọn những thanh niên tinh thông võ nghệ, giỏi bơi để sung vào đội thuyền giao cho Đặng Văn Siểm đảm trách, dẫn đƣờng và Võ Văn Công phụ trách lƣơng thảo, ra quần đảo Hoàng Sa. Tiếp đó, tháng 7 năm Ất Mùi (1835), vua Minh Mạng cử Phạm Văn Nguyên phụ trách một đội lính thợ giám thành và phu thuyền ở hai tỉnh Quảng Nghĩa và Bình Định chở vật liệu đến quần đảo Hoàng Sa để dựng miếu và lập bia đá trên quần đảo này. Tháng 2 năm Bính Thân (1836), Bộ binh điều động Phạm Hữu Nhật đƣa binh lính đến quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi để đo đạc và đóng 10 cái bài gỗ ở đảo này làm dấu ghi, trên mỗi bài gỗ đề rõ niên hiệu “Minh Mạng thứ 17 năm Bính Thân”.
Kể từ năm 1836 trở đi, vào cuối tháng giêng, triều đình nhà Nguyễn đều đƣa lính thủy và vệ giám thành ra quần đảo Hoàng Sa khảo sát, vẽ bản đồ; đồng thời quy định cấp thêm tiền cho binh lính, từ mồng 1 tháng giêng đến cuối tháng 3 phải trả lƣơng cho binh lính mỗi tháng, đủ một quan tiền. Mặc dù lực lƣợng và phƣơng tiện còn hạn chế, nhƣng với những cố gắng của mình, triều Nguyễn đã thể hiện tƣ tƣởng về xây dựng lực lƣợng và củng cố thế trận bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc ngay trên quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, tới khi thực dân Pháp xâm lƣợc Đông Dƣơng thì hai đội hải quân này đã ngừng hoạt động. Ngoài ra, nhà Nguyễn còn cho biên soạn bộ quốc sử Việt Nam để ngƣời Việt Nam bớt lệ thuộc vào Bắc sử (Trung Quốc) trong việc học hành, để ngƣời Việt Nam đánh giá đúng hơn về bản lĩnh, truyền thống của dân tộc.
Sau khi chấn chỉnh về mặt chính trị, hành chính, Nguyễn Ánh chủ trƣơng xây dựng Gia Định theo quy mô, tổ chức nhƣ một quốc gia thu nhỏ, đặt sứ quán gồm hai tòa nhà, làm nơi cƣ trú cho sứ giả các nƣớc láng giềng đến. Một đội lính vệ gồm 20 ngƣời, đƣợc cử thƣờng xuyên canh giữ thành 12 Gia Định.