Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chất lượng nhân lực các khu công nghiệp trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh; Chương 3: Thực trạng chất lượng nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh; Chương 4: Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực các khu công nghiệp trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh tại tỉnh Đồng Nai. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh với thị trường lao động và việc làm Cho đến nay, các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa TTX với thị trường lao động và việc làm, đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu sau: Chiến lược TTX được xem như là một “ống kính” để kiểm tra sự tăng trưởng kinh tế trên các khía cạnh kinh tế, môi trường, xã hội, công nghệ và phát triển trong một khuôn khổ toàn diện [120]; [126]; [133]. Mặc dù việc thực hiện chiến lược TTX có thể làm phát sinh các chi phí đầu tư, chi phí vận hành cao hơn và dẫn đến sự đánh đổi giữa bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn [91].
Tuy nhiên, trong dài hạn, “TTX sẽ làm cho các quá trình tăng trưởng trở nên hiệu quả, sạch hơn và linh hoạt hơn” bằng cách cải tiến về y tế, giáo dục, sự gắn kết và ổn định, gia tăng các yếu tố sản xuất, các nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người và xã hội; cải thiện sự lan tỏa kiến thức trong nền kinh tế; tăng khả năng cạnh tranh; tăng khả năng phục hồi nền kinh tế trước các cú sốc; tăng hàm lượng công việc để giảm nghèo hướng đến tăng trưởng bao trùm (Inclusive growth) [126]; [90]. Vì vậy, Kedaitiene, Angele (2018) [139] cho rằng thành công của sự chuyển dịch sang TTX phụ thuộc vào sự quản trị của Chính phủ; sự khuyến khích tham gia của xã hội và cộng đồng địa phương trong mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Do đó, các quốc gia đang phát triển cần phải thực hiện việc đo lường, đánh giá các nguồn lực đáp ứng cho TTX để có chiến lược phù hợp [138]. Bằng chứng từ mô hình “TTX các-bon thấp”[89] năm 2008 của Chính phủ Hàn Quốc cho thấy các ngành công nghiệp gây ô nhiễm chịu tác động tiêu cực đến năng suất lao động và việc làm.
Do đó, việc thực hiện TTX sẽ gây ra sự phân phối lại thị trường lao động từ lĩnh vực không xanh sang lĩnh vực xanh [103]. Ở một khía cạnh khác, Alex Bowen (2012) [86] cho rằng việc thực thi các chính sách TTX sẽ gây ra tác động đối với năng suất lao động và chi phí việc làm. Do đó, thuật ngữ “Green jobs” (việc làm xanh) được sử dụng với nghĩa rộng lớn hơn là việc làm trong tập hợp các ngành công nghiệp cung cấp dịch vụ môi trường, đó là việc làm trong những ngành tạo ra chất thải và ô nhiễm ở mức tối thiểu [100]. Do đó, việc làm xanh giúp cải thiện hiệu suất năng lượng và hiệu suất sử dụng của 11 các nguyên liệu thô, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái [97].
Vì vậy, việc làm xanh rất đa dạng vì chúng có thể được tạo ra trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế, ở thành thị và nông thôn và tất cả các phân khúc của lực lượng lao động (Anushree Sinha & et al. Tuy nhiên, việc làm xanh yêu cầu mức độ cao hơn về phương diện tiêu chuẩn trong lực lượng lao động như giáo dục chính quy, kinh nghiệm làm việc và đào tạo tại chỗ (Davide Consoli et al. Do đó, đối với các quốc gia đang phát triển có thị trường lao động được phân khúc đa dạng, cần hướng tới các dự án sản xuất xanh với hàm lượng lao động cao, và việc chuyển đổi sang TTX và tạo việc làm cần đi đôi với nhau [86]. Để phát triển việc làm xanh, yêu cầu người lao động phải có các kỹ năng xanh (Green skills).
Việc thiếu kỹ năng sẽ tạo ra rào cản lớn trong quá trình chuyển đổi sang các nền kinh tế xanh và tạo ra việc làm xanh (ILO, 2011)[135]. Do đó, việc phát triển các kỹ năng và nhu cầu đào tạo cho nền kinh tế carbon thấp là hướng nghiên cứu mới và tiếp cận chính sách nhằm thúc đẩy một tương lai xanh hơn, bền vững hơn (OECD, 2012) [96]. Kỹ năng xanh là những kỹ năng, khả năng, giá trị và thái độ cần thiết để sống, để thích ứng với các sản phẩm, dịch vụ và quá trình ứng phó với biến đổi khí hậu, các yêu cầu và quy định môi trường liên quan, để phát triển và hỗ trợ một xã hội bền vững và tiết kiệm tài nguyên. Để thực hiện được điều này các nhà nghiên cứu cho rằng chỉ có thể được thực hiện bằng cách phát triển các kỹ năng, kiến thức và năng lực phù hợp cho người lao động (Cedefop, 2012) [88].
Tuy nhiên, theo Davide Consoli, Marzucchi, Alberto, et al (2016) [121], có một sự khác biệt giữa ngành nghề xanh và ngành nghề không xanh trong kỹ năng nhận thức và kỹ năng liên kết cá nhân. Các ngành nghề xanh đòi hỏi kỹ năng nhận thức và kỹ năng liên kết cá nhân ở cấp độ cao hơn [149], [121]. Do đó, khi thực hiện chiến lược TTX, các công việc mới được tạo ra đòi hỏi sự hội tụ kiến thức, sự kết hợp cả kỹ năng truyền thống và kỹ năng xanh mới, trong đó các kỹ năng xanh mới này có thể được cung cấp bằng các chương trình đạo tào tại chỗ [95]. Chính vì vậy, để tránh sự mất cân đối trên thị trường lao động khi thực hiện TTX đòi hỏi sự tham gia tích cực của hệ thống giáo dục và đào tạo nghề trong việc trang bị cho những người lao động tương lai các kỹ năng cần thiết để tận dụng tối đa các cơ hội 12 việc làm được tạo ra [128].
Trong đó, các kỹ năng xanh cần được đưa vào danh sách các kỹ năng mà người học phải có để nâng cao chất lượng bản thân và nó cũng mang lại giá trị gia tăng cho các cá nhân để cạnh tranh trong thời đại toàn cầu hóa. Vì vậy, các kỹ năng cần thiết trong lực lượng lao động, bao gồm: (1) Nhận thức về môi trường, thái độ và sự sẵn sàng nghiên cứu về phát triển bền vững; (2) sự tự điều phối và quản lý các kỹ năng đáp ứng các yêu cầu về mặt kinh tế, xã hội và môi trường; (3) Kỹ năng khởi nghiệp để nắm bắt cơ hội từ công nghệ carbon thấp; (4) Kỹ năng đổi mới để xác định các cơ hội và tạo ra các chiến lược mới để ứng phó với các thách thức xanh; (5) Kỹ năng STEM - kiến thức chung về vai trò của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để đóng góp vào quá trình chuyển sang nền kinh tế xanh hơn; và (6) Kỹ năng tư duy phân tích [137]. Mặc dù, thừa nhận việc thực thi mô hình kinh tế theo hướng TTX sẽ gây ra những tác động đối với sản xuất, việc làm, giáo dục, tài chính và các chính sách công của chính phủ, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển với những ngành sản xuất thâm dụng lao động [86], [174]. Tuy nhiên, đó không còn là một sự phát triển đáng mong muốn, mà là vấn đề mang tính khẩn thiết (Webster, Ken, 2017) [174].
Vì thế, để hạn chế các tác động tiêu cực, chính phủ các quốc gia thuộc nhóm G20 đã đề xuất danh sách các hành động để hỗ trợ, tăng cường các phương thức sản xuất bền vững hơn như hỗ trợ tài chính; thiết lập chuỗi cung ứng; chuyển thuế lao động sang các hoạt động gây hại cho môi trường để khuyến khích sự dịch chuyển trên thị trường lao động [158]… đáp ứng yêu cầu TTX. Như vậy, mặc dù sử dụng các cách tiếp cận khác nhau, nhưng các nghiên cứu đều có chung quan điểm khi thừa nhận mối quan hệ tác động mạnh mẽ giữa TTX và thị trường lao động, việc làm, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển. Do đó, cần phải có những chính sách, xây dựng các ràng buộc để huy động sự tham gia của các nguồn lực nói chung và nguồn lực con người nói riêng trong thực hiện chiến lược TTX, hướng đến phát triển bền vững. Nghiên cứu về xu hướng thực hiện tăng trưởng xanh tại các khu công nghiệp TTX trong công nghiệp hay xu hướng phát triển công nghiệp xanh là thuật ngữ mô tả sự phát triển công nghiệp, KCN xanh tập trung vào 2 mục tiêu chính là 13 hạn chế phát thải khí các-bon, các hóa chất độc hại từ các KCN, khu chế xuất ra ngoài môi trường; đồng thời, thúc đẩy nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng mới, máy móc kỹ thuật mới thân thiện với môi trường, hướng đến phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để đạt được hai mục tiêu trên, các mô hình thực hiện TTX trong các KCN được thực nghiệm theo nhiều cách khác nhau. Cụ thể: Mô hình KCN sinh thái (Eco Industrial Parks - EIPs) xuất hiện từ những nỗ lực áp dụng các nguyên tắc sinh thái vào thiết kế các hoạt động công nghiệp và cộng đồng, để đạt được các kết quả kinh tế - môi trường tốt hơn thông qua việc gắn kết, phối hợp quản lý về môi trường và sử dụng nguồn lực tài nguyên hiệu quả và sạch hơn, để tối ưu hóa quá trình sản xuất và phát triển kinh tế cộng đồng bền vững (Lowe & Warren, 1996) [125] và (UNIDO, 2019) [85]. Mô hình này đang được xem là mô hình phát triển hiện đại, phù hợp và tất yếu trong xu thế hiện nay, là phương tiện để các công ty có thể đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua trao đổi vật lý các nguyên liệu, năng lượng, nước, sản phẩm phụ, cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sản xuất và giảm thiểu chi phí hướng tới sự phát triển toàn diện và bền vững [159], [145]. Mô hình KCN sinh thái được xem “là cơ hội để đạt được sự phát triển công nghiệp toàn diện và bền vững, đáp ứng các mục tiêu của Chương trình Nghị sự 2030 và các Mục tiêu phát triển bền vững”[85].
Ở Hàn Quốc, nghiên cứu của Hyeong-Woo Kim et al., (2018) [142] bằng cách thu thập dữ liệu và phân loại 251 KCN sinh thái đã được thương mại hóa, phân tích đầu vào – đầu ra (Input-Output), kết quả cho thấy hiệu quả chung mà các KCN sinh thái mang lại là làm thay đổi giá trị gia tăng; tạo việc làm. Tại Trung Quốc, Zhu et al.