Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nhân lực các khu công nghiệp trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Nai" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Ngô Thị Hồng Giang tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Xuân Dũng và TS. Cảnh Chí Hoàng. Công trình thuộc ngành Quản lý kinh tế, mã số 9 34 04 10.

Về tính cấp thiết, nguồn nhân lực được xác định là tài sản sống và là yếu tố sản xuất cơ bản mang tính nội sinh, quyết định năng suất và giá trị thặng dư. Trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên diễn ra gay gắt, việc chuyển dịch từ mô hình kinh tế truyền thống sang tăng trưởng xanh nhằm giảm thiểu phát thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên đã trở thành xu thế tất yếu. Quá trình xanh hóa các khu công nghiệp đòi hỏi ba trụ cột: cơ sở hạ tầng, ứng dụng khoa học công nghệ và chất lượng nhân lực. Tại Việt Nam, Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 (thay thế Quyết định số 1393/QĐ-TTg năm 2012) đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành sản xuất xanh. Tỉnh Đồng Nai là trung tâm công nghiệp lớn thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với 32 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động (trên tổng số 39 khu công nghiệp theo quy hoạch), thu hút hơn 607 nghìn lao động. Dù vậy, có đến 71% lao động đang làm việc tại địa phương chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên, gây khó khăn cho việc hấp thu công nghệ sạch và chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp sinh thái.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định từ việc các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề nhân lực ở góc độ phát triển chung hoặc khảo sát các khu công nghiệp theo mô hình kinh tế nâu truyền thống; các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực thường chỉ dừng lại ở các kỹ năng kỹ thuật mà chưa tích hợp toàn diện các yêu cầu về kiến thức môi trường, kỹ năng xanh và trách nhiệm sinh thái trong bối cảnh tăng trưởng xanh từ góc độ quản lý kinh tế đa bên.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm rõ thực trạng chất lượng nhân lực tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; từ đó xây dựng các giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng nhân lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh của địa phương. Để đạt được mục tiêu này, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chất lượng nhân lực khu công nghiệp trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh.
  • Thiết kế khung khảo sát và xây dựng thang đo đánh giá chất lượng nhân lực khu công nghiệp theo yêu cầu tăng trưởng xanh.
  • Phân tích thực trạng chất lượng nhân lực và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực tại các doanh nghiệp khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị quản lý kinh tế nhằm nâng cao chất lượng nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Thực trạng chất lượng nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh hiện nay như thế nào?
  2. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh?
  3. Làm thế nào để nâng cao chất lượng nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh thời gian tới?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng nhân lực và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực các doanh nghiệp khu công nghiệp trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh. Phạm vi nghiên cứu về không gian giới hạn tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn thực trạng từ năm 2012 đến năm 2022 (kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh) và tầm nhìn giải pháp đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. Phạm vi nội dung tập trung phân tích chất lượng nhân lực hiện hữu trong các doanh nghiệp khu công nghiệp gắn với công tác quản lý nhà nước (quy hoạch, cơ chế chính sách, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra kiểm soát) và các tiêu chí cấu thành chất lượng nhân lực; luận án không tiếp cận nhân lực dưới góc độ nguồn lực dân số chung của toàn tỉnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước qua 6 nhóm chủ đề chính:

Nhóm thứ nhất gồm các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh với thị trường lao động và việc làm. Các nghiên cứu của Ekins (2000), Hallegatte (2011), Bowen (2012), Consoli và cộng sự (2016), Webster (2017), Yoo và Heshmati (2019) cùng báo cáo của OECD (2011, 2012), ILO (2011, 2017) và Cedefop (2012) chỉ ra rằng việc thực thi chính sách xanh dẫn tới sự tái cơ cấu việc làm, chuyển dịch lao động từ các ngành phát thải cao sang các ngành sản xuất sạch hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc trang bị kỹ năng xanh (green skills) và kỹ năng nhận thức cấp cao.

Nhóm thứ hai liên quan đến xu hướng thực hiện tăng trưởng xanh tại các khu công nghiệp. Các công trình của Lowe và Warren (1996), UNIDO (2019), Hyeong-Woo Kim và cộng sự (2018) tại Hàn Quốc, Zhu và cộng sự (2014) tại Trung Quốc nhấn mạnh mô hình khu công nghiệp sinh thái (Eco-Industrial Parks - EIPs). Zhu và cộng sự sử dụng lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (RDT) và quan điểm dựa vào nguồn lực (RBV) để chỉ ra rằng sự thiếu hụt về năng lực nhân lực và tài chính là rào cản lớn nhất đối với việc chuyển đổi sinh thái của doanh nghiệp.

Nhóm thứ ba xem xét các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực. Schultz (1961), Barro (2001), Becker (2009), Kolomiiets và Petrushenko (2017), Galiakberova (2019) cùng các học giả Việt Nam như Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), Vũ Thị Ngọc Phùng (2006), Nguyễn Tiệp (2011), Đinh Phi Hổ và Từ Đức Hoàng (2016), Hạ Thị Thiều Dao và Nguyễn Đăng Khoa (2014) đã đo lường nhân lực thông qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, thể lực, trí lực và vốn con người đặc thù so với vốn con người tổng quát.

Nhóm thứ tư tập trung vào chất lượng nhân lực trong bối cảnh tăng trưởng xanh. Các công trình của World Bank (2012), Dercon (2014), CAD và AfDB (2015), APEC (2013), Marzucchi và cộng sự (2015) phân tích cơ cấu kỹ năng nhận thức và kỹ năng tương tác cá nhân mà các công việc xanh đòi hỏi, khẳng định đào tạo tại chỗ và tái đào tạo là con đường chuyển hóa kiến thức mới vào hệ thống sản xuất.

Nhóm thứ năm nghiên cứu về chất lượng nhân lực trong các khu công nghiệp tại Việt Nam. Các nghiên cứu của Phan Tuấn Anh (2015), Vũ Thị Hà (2016), Võ Thị Ngọc Lan và Nguyễn Trí (2017), Phạm Thị Thanh Hằng (2019), Đặng Đình Thức (2019), Cảnh Chí Hoàng (2014) phản ánh thực trạng lao động tại các khu công nghiệp nước ta phần lớn là lao động trẻ, trình độ chuyên môn thấp, chủ yếu làm việc trong các ngành may mặc, da giày, gia công lắp ráp thâm dụng lao động giản đơn.

Nhóm thứ sáu khảo sát chất lượng nhân lực khu công nghiệp gắn với tăng trưởng xanh. Các nghiên cứu của Phạm Nguyễn Ngọc Anh (2011), Nguyễn Trọng Hoài và Lê Hoàng Long (2014), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (2016), Nguyễn Đình Thọ (2016), Phạm Đức Chính và cộng sự (2017), Phạm Thị Hạnh (2019) nghiên cứu trường hợp thành phố Đà Nẵng, Bế Trung Anh (2015), Bùi Hà Linh và cộng sự (2017) đã bước đầu nêu bật vai trò của nhà nước và doanh nghiệp trong việc đào tạo kỹ năng xanh, song chủ yếu bàn về chính sách vĩ mô.

Từ việc phân tích tổng quan, luận án chỉ ra 4 khoảng trống nghiên cứu chính:

  1. Chưa có công trình xem xét đồng thời tác động của nhóm yếu tố bên ngoài (chính sách phát triển khu công nghiệp, hạ tầng, giáo dục đào tạo, cơ chế thị trường lao động, chiến lược tăng trưởng xanh) và nhóm yếu tố bên trong (chiến lược kinh doanh, nguồn lực nội tại doanh nghiệp) lên chất lượng nhân lực khu công nghiệp trong một khung phân tích thống nhất.
  2. Các cấu phần chất lượng nhân lực truyền thống (kiến thức, kỹ năng, thái độ) chưa được tích hợp đầy đủ yếu tố "trách nhiệm đối với môi trường" và "kỹ năng xanh" theo chuẩn mực tăng trưởng xanh.
  3. Thiếu vắng các nghiên cứu thực chứng áp dụng phương pháp định lượng để đo lường mức độ đánh giá của người sử dụng lao động đối với chất lượng nhân lực khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai dưới góc độ quản lý kinh tế đa tác nhân.
  4. Chưa có hệ thống giải pháp quản lý kết hợp hài hòa nguyên lý kinh tế học, công cụ thể chế nhà nước và nguyên tắc quản trị lợi ích của doanh nghiệp nhằm tạo động lực nâng cao chất lượng lao động thích ứng với chuyển đổi sinh thái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết quản lý kinh tế và kinh tế học lao động:

  • Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) của Schultz (1961) và Becker (2009): xem xét giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm là các khoản đầu tư tích lũy vốn nhân lực, phân chia thành vốn nhân lực chung và vốn nhân lực đặc thù của doanh nghiệp.
  • Lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Endogenous Growth Theory) của Romer và Lucas (được Boztosun và cộng sự, 2016 dẫn dụng): khẳng định tiến bộ công nghệ và tri thức tích lũy thông qua nhân lực là động lực cốt lõi duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn.
  • Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV) của Barney (1991): xác định nguồn nhân lực có kỹ năng và năng lực thích ứng xanh là tài sản chiến lược đặc thù, khó sao chép, tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp khu công nghiệp.
  • Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (Resource Dependence Theory - RDT): giải thích sự tương tác giữa doanh nghiệp khu công nghiệp với các tác nhân bên ngoài (thị trường lao động, cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước) trong việc tiếp cận các nguồn lực lao động đáp ứng tiêu chuẩn môi trường.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp cách tiếp cận định tính và định lượng:

Hạng mục phương pháp Nội dung và kỹ thuật thực hiện Quy mô / Nguồn tư liệu
Hồi cứu tài liệu và thống kê mô tả Tổng hợp lý thuyết, chủ trương, chính sách; xử lý dữ liệu thứ cấp về phát triển khu công nghiệp và lao động. Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, Ban Quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai, Sở LĐ-TB&XH (2012-2023).
Phân tích định tính chuyên gia Thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussion) nhằm hiệu chỉnh thang đo và bảng hỏi khảo sát. 4 nhóm chuyên gia (2-3 người/nhóm) gồm giảng viên, lãnh đạo sở ngành, cán bộ BQL các KCN, cán bộ nhân sự DN KCN.
Phương pháp nghiên cứu điển hình Phỏng vấn sâu đại diện doanh nghiệp để tìm hiểu nhận thức và thực tiễn triển khai tiêu chuẩn xanh. 5 doanh nghiệp điển hình trong các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
Khảo sát định lượng sơ bộ Kiểm tra độ hiểu câu hỏi và độ tương thích ban đầu của thang đo Likert 5 điểm (1: Rất thấp đến 5: Rất cao). Mẫu thử nghiệm n = 30 phiếu tại doanh nghiệp khu công nghiệp.
Khảo sát định lượng chính thức Gửi phiếu điều tra thuận tiện trực tiếp và qua thư điện tử tới người sử dụng lao động trong các KCN Đồng Nai. Thu về 284 phiếu hợp lệ (240 phiếu phát trực tiếp, 44 phiếu qua thư điện tử), thực hiện từ tháng 6/2023 đến 9/2023.
Kỹ thuật phân tích dữ liệu Sử dụng phần mềm SPSS 23.0 để thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA. 40 biến quan sát thuộc các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí chất lượng nhân lực; ngưỡng Cronbach's Alpha ≥ 0.6, EFA có KMO ≥ 0.5.

Khung tiêu chuẩn định lượng được tác giả áp dụng nghiêm ngặt theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (1998) cùng Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008): hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item - Total Correlation) phải đạt từ 0,3 trở lên; hệ số tin cậy Cronbach's Alpha từ 0,6 trở lên (thang đo mới); hệ số tải nhân tố (Factor Loading) trong EFA từ 0,5 trở lên; tổng phương sai trích (Total Variance Explained) đạt tối thiểu 50% và giá trị Eigenvalue lớn hơn 1.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 6 tuyến nội dung về việc làm xanh, chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái, đo lường chất lượng nguồn nhân lực và thực trạng nhân lực khu công nghiệp trong mối liên hệ với chiến lược tăng trưởng xanh. Tác giả chỉ rõ các công trình nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung đánh giá mức độ phát triển nhân lực nói chung hoặc nhấn mạnh can thiệp vĩ mô từ phía chính quyền. Rất ít công trình đi sâu khảo sát mức độ đáp ứng cụ thể về kiến thức môi trường, kỹ năng vận hành công nghệ sạch và ý thức trách nhiệm sinh thái của người lao động trực tiếp trong các khu công nghiệp dưới sự đánh giá của người sử dụng lao động. Trên cơ sở đó, chương 1 xác lập 4 khoảng trống học thuật và định vị hướng đi riêng của luận án: tiếp cận quản lý kinh tế kết hợp các nhân tố tác động đa chiều để xây dựng khung phân tích thực chứng tại tỉnh Đồng Nai.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chất lượng nhân lực các khu công nghiệp trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm cốt lõi: nhân lực khu công nghiệp là tổng thể năng lực làm việc (thể lực, trí lực, kỹ lực, thái độ và trách nhiệm) của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp khu công nghiệp, đáp ứng các yêu cầu sản xuất công nghiệp và chuyển giao công nghệ sạch.

Nội dung quản lý nhà nước đối với chất lượng nhân lực khu công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh được luận án xác định theo chu trình quản lý 3 khâu:

  • Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và ban hành cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực gắn với công nghiệp xanh.
  • Định hướng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và cung ứng lao động.
  • Kiểm tra, kiểm soát và đánh giá việc thực thi các kế hoạch phát triển nhân lực theo chuẩn mực bảo vệ môi trường.

Về tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực, luận án xây dựng bộ tiêu chí 3 nhóm:

  • Kiến thức: bao gồm kiến thức chuyên môn kỹ thuật theo vị trí việc làm và kiến thức pháp luật, tiêu chuẩn về môi trường.
  • Kỹ năng: bao gồm kỹ năng tư duy/nhận thức, kỹ năng vận hành sản xuất sạch/bảo vệ môi trường và kỹ năng xã hội (làm việc nhóm, giao tiếp).
  • Thái độ và trách nhiệm: bao gồm kỷ luật lao động, sự gắn kết nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm đối với bảo vệ tài nguyên, môi trường sống.

Chương này cũng phân tích hai nhóm nhân tố tác động đến chất lượng nhân lực: nhóm bên ngoài (chính sách phát triển khu công nghiệp, hạ tầng kinh tế - xã hội, chính sách giáo dục - đào tạo, cơ chế thị trường lao động, chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia và địa phương) và nhóm bên trong (chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng tài chính và chính sách đãi ngộ nhân sự nội bộ). Đồng thời, tác giả đúc kết kinh nghiệm phát triển nhân lực xanh tại Hàn Quốc (chiến lược tăng trưởng xanh các-bon thấp năm 2008), Trung Quốc (giải quyết rào cản năng lực trong các khu công nghiệp sinh thái) và Cộng hòa Liên bang Đức (mô hình đào tạo nghề kép gắn với kinh tế tuần hoàn), rút ra bài học về liên kết ba nhà (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) áp dụng cho Đồng Nai.

Chương 3: Thực trạng chất lượng nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh

Chương 3 trình bày bức tranh tổng thể về các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai và thực trạng nguồn nhân lực giai đoạn 2012-2022 thông qua số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát 284 doanh nghiệp:

Chỉ tiêu thống kê Dữ liệu ghi nhận tại tỉnh Đồng Nai
Quy hoạch và xây dựng KCN Có 39 KCN theo quy hoạch; 32 KCN đã hoàn thành xây dựng; diện tích đất 10.246,59 ha; tỷ lệ lấp đầy đạt trên 83%.
Nguồn vốn hạ tầng KCN Vốn đầu tư hạ tầng thực hiện: 10.277,26 tỷ đồng và 169,81 triệu USD.
Quy mô lao động KCN Hơn 607.000 lao động; trong đó lao động nữ chiếm 56% (340.058 người), lao động nam chiếm 267.189 người; lao động nước ngoài trên 7.000 người.
Đặc điểm dân số và tăng trưởng Dân số trên 3,2 triệu người; dân số vàng (67,4% trong độ tuổi 15-60); tỷ lệ nhập cư đứng thứ 4 cả nước (9,2%); GRDP năm 2023 tăng 5,3%; GRDP bình quân đạt 139,75 triệu đồng/người.
Cơ cấu trình độ lao động chung 71% lao động có việc làm không có bằng cấp/chứng chỉ sơ cấp trở lên; trình độ trung cấp chiếm 3,7%; cao đẳng chiếm 4,3%; đại học trở lên chiếm 15,9%.

Thực trạng chất lượng nhân lực theo kết quả khảo sát 284 doanh nghiệp khu công nghiệp:

  • Về kiến thức: Điểm đánh giá kiến thức chuyên môn cơ bản đạt mức trung bình khá đối với các thao tác sản xuất truyền thống, nhưng kiến thức về quy trình sản xuất sạch, kiểm soát chất thải, tiết kiệm năng lượng và các tiêu chuẩn môi trường quốc tế còn thấp.
  • Về kỹ năng: Kỹ năng vận hành máy móc thiết bị công nghệ mới và kỹ năng xử lý sự cố môi trường còn yếu; kỹ năng tư duy độc lập và kỹ năng xã hội chưa đáp ứng tốt yêu cầu chuyển đổi số và công nghệ sinh thái.
  • Về thái độ và trách nhiệm: Đa số người lao động có tinh thần chấp hành nội quy lao động khá tốt, song ý thức tự giác tuân thủ quy chuẩn bảo vệ môi trường, thực hiện phân loại rác thải tại nguồn và tiết kiệm nguyên vật liệu mới dừng lại ở mức độ đối phó theo quy định của nhà xưởng.

Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và EFA trên SPSS 23.0 đối với 40 biến quan sát đã xác định các yếu tố giữ lại phân tích, chứng minh tác động có ý nghĩa thống kê của các nhân tố: chính sách phát triển KCN, hạ tầng xã hội, chính sách giáo dục - đào tạo, cơ chế thị trường lao động, chiến lược phát triển doanh nghiệp và nhận thức về chiến lược tăng trưởng xanh đến chất lượng nhân lực. Hạn chế chủ yếu được chỉ ra là cơ cấu lao động nghiêng quá lớn về nhóm lao động phổ thông thâm dụng lao động, mạng lưới đào tạo nghề chưa gắn kết thực chất với nhu cầu xanh hóa của doanh nghiệp, và việc triển khai Nghị quyết 88/2013/NQ-HĐND của tỉnh về khu công nghiệp xanh còn mang tính đơn lẻ, thiếu cơ chế tài chính và kiểm soát ràng buộc.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong bối cảnh thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh

Chương 4 phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế, xu hướng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các cam kết giảm phát thải ròng của Việt Nam. Trên cơ sở xác định rõ cơ hội và thách thức đối với tỉnh Đồng Nai, luận án nêu bật quan điểm phát triển nhân lực chất lượng cao phải đi trước một bước, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và gắn kết chặt chẽ quản lý kinh tế nhà nước với cơ chế thị trường. Luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện đến năm 2030, tầm nhìn 2050:

  1. Nhóm giải pháp về xây dựng quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách: Cập nhật quy hoạch nguồn nhân lực khu công nghiệp gắn với quy hoạch các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao; ban hành các chính sách ưu đãi tài chính, thuế đối với các doanh nghiệp tự đầu tư cơ sở đào tạo nghề xanh.
  2. Nhóm giải pháp về định hướng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện giáo dục - đào tạo: Đổi mới chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tích hợp kỹ năng xanh, kỹ năng số); đẩy mạnh mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng giữa nhà trường và doanh nghiệp khu công nghiệp.
  3. Nhóm giải pháp về công tác kiểm tra, kiểm soát: Thiết lập bộ chỉ số đánh giá kỹ năng nghề nghiệp và tuân thủ môi trường trong khu công nghiệp; tăng cường kiểm tra liên ngành đối với việc thực thi các quy định về an toàn lao động, vệ sinh môi trường và nghĩa vụ đào tạo lại lao động của doanh nghiệp.
  4. Nhóm giải pháp phát triển thị trường lao động: Hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, tổ chức các sàn giao dịch việc làm chuyên đề về việc làm xanh, tạo thuận lợi cho việc dịch chuyển lao động có tay nghề cao vào các khu công nghiệp.
  5. Nhóm giải pháp sử dụng nhân lực: Hoàn thiện chính sách đãi ngộ, tiền lương gắn với năng suất và sáng kiến xanh; cải thiện môi trường làm việc và cung cấp nhà ở công nhân, thiết chế văn hóa nhằm giữ chân lao động gắn bó dài hạn.
  6. Nhóm giải pháp đối với bản thân doanh nghiệp khu công nghiệp: Tự chủ ngân sách đào tạo tại chỗ, xây dựng văn hóa doanh nghiệp xanh, khuyến khích người lao động tham gia phong trào cải tiến sinh thái (eco-innovation) tại dây chuyền sản xuất.

Luận án đồng thời đề xuất kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ (hoàn thiện khung pháp lý về khu công nghiệp sinh thái và danh mục nghề xanh) và các Bộ, ngành liên quan (Bộ GD&ĐT, Bộ LĐ-TB&XH ban hành chuẩn đầu ra tích hợp kỹ năng xanh).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và giá trị thực tiễn:

Về phương diện lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm rõ khung lý luận về chất lượng nhân lực các khu công nghiệp trong điều kiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh; xác định chất lượng nhân lực khu công nghiệp không chỉ gồm thể lực, trí lực và kỹ lực thông thường mà phải mở rộng thành tố thái độ và trách nhiệm đối với môi trường.
  • Bổ sung bộ tiêu chí và thang đo thực nghiệm đo lường chất lượng nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng (kết hợp cả yếu tố vĩ mô của nhà nước và yếu tố vi mô của doanh nghiệp) phù hợp với bối cảnh các nước đang phát triển.

Về phương diện thực tiễn:

  • Đúc kết kinh nghiệm quốc tế có tính tương đồng từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức để chỉ ra các bài học khả thi cho các địa phương tập trung công nghiệp tại Việt Nam.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng gồm 284 phiếu khảo sát từ các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, phản ánh mức độ đáp ứng về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trước đòi hỏi của tăng trưởng xanh giai đoạn 2012-2022.
  • Chứng minh mức độ tác động của các nhân tố như chính sách khu công nghiệp, chính sách giáo dục đào tạo, cơ chế thị trường lao động và chiến lược phát triển doanh nghiệp đến chất lượng nguồn nhân lực.
  • Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp quản lý kinh tế mang tính đồng bộ và hệ thống kiến nghị gửi tới Chính phủ và các Bộ ngành, hỗ trợ trực tiếp công tác điều hành phát triển khu công nghiệp sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án tự nhận định các giới hạn sau trong phạm vi nghiên cứu:

  • Phương pháp chọn mẫu điều tra định lượng là phương pháp thuận tiện do các doanh nghiệp trong khu công nghiệp có tính bảo mật cao và khó tiếp cận trực tiếp đầy đủ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng hoàn chỉnh.
  • Phạm vi nội dung chỉ tập trung vào nguồn nhân lực hiện hữu đang trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, chưa mở rộng phân tích chất lượng của toàn bộ lực lượng lao động dự bị hay cung lao động xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
  • Chưa đo lường chi tiết được các yếu tố kỹ thuật mang tính đặc thù sâu của từng phân ngành sản xuất hẹp (như hóa chất, cơ khí chính xác, dệt nhuộm) do tính chất đa dạng về ngành nghề của 32 khu công nghiệp trên địa bàn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát ngẫu nhiên với cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh) để so sánh đối chuẩn; đồng thời xây dựng các mô hình định lượng chi tiết đánh giá tác động của kỹ năng xanh đến năng suất các-bon và hiệu quả tài chính của từng nhóm ngành công nghiệp cụ thể.

Giá trị tham khảo

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương và Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai có thể sử dụng các phát hiện thực trạng và hệ thống giải pháp ở chương 4 để rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nhân lực và xây dựng đề án chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái.
  • Doanh nghiệp tại các khu công nghiệp: Cán bộ nhân sự và nhà quản trị doanh nghiệp có thể tham khảo thang đo đánh giá kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm môi trường tại chương 2 và chương 3 để xây dựng chương trình đào tạo tại chỗ, tiêu chuẩn tuyển dụng và tiêu chí đãi ngộ lao động theo định hướng sản xuất sạch.
  • Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học: Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn miền Nam có căn cứ thực tiễn để đổi mới chương trình giảng dạy, lồng ghép các môn học về công nghệ sạch, quy chuẩn môi trường nhằm cung cấp nguồn lao động thích ứng ngay với yêu cầu của thị trường.
  • Giới nghiên cứu học thuật: Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển có thể kế thừa khung phân tích lý luận, phương pháp khảo sát chuyên gia và bộ thang đo thực nghiệm để triển khai các đề tài nghiên cứu tương tự về lao động và tăng trưởng xanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chất lượng nhân lực tại các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai với quy mô mẫu và phương pháp xử lý dữ liệu như thế nào? Tác giả đã triển khai khảo sát thử nghiệm sơ bộ trên 30 mẫu, sau đó tiến hành khảo sát chính thức bằng phương pháp điều tra thuận tiện từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2023 thông qua Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai. Kết quả thu về 284 phiếu hợp lệ (240 phiếu gửi trực tiếp, 44 phiếu qua thư điện tử) từ người sử dụng lao động. Dữ liệu gồm 40 biến quan sát được xử lý trên phần mềm SPSS 23.0 bằng kỹ thuật kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (yêu cầu hệ số tương quan biến - tổng ≥ 0,3 và Alpha ≥ 0,6) kết hợp phân tích nhân tố khám phá EFA (hệ số tải ≥ 0,5, KMO đạt từ 0,5 đến 1, phương sai trích ≥ 50% và Eigenvalue > 1).

2. Thực trạng cơ cấu trình độ học vấn của lực lượng lao động tại tỉnh Đồng Nai giai đoạn nghiên cứu có điểm gì đáng lưu ý? Dù tỉnh Đồng Nai có lực lượng lao động dồi dào với 80,1% đáp ứng cho khu vực công nghiệp và xây dựng, nhưng có tới 71% người lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên. Trình độ trung cấp chỉ chiếm 3,7%, cao đẳng chiếm 4,3% và trình độ đại học trở lên chỉ đạt 15,9%. Đây là rào cản lớn đối với việc làm chủ công nghệ cao và thực hiện các quy trình chuyển đổi sinh thái.

3. Khung tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực khu công nghiệp trong bối cảnh tăng trưởng xanh được luận án xác lập gồm những thành tố nào? Khung đánh giá gồm 3 nhóm tiêu chí chính:

  • Kiến thức: Kiến thức chuyên môn theo vị trí việc làm và kiến thức môi trường (hiểu biết luật pháp, tiêu chuẩn phát thải, công nghệ sạch).
  • Kỹ năng: Kỹ năng tư duy/nhận thức, kỹ năng thực hành bảo vệ môi trường (tiết kiệm nguyên vật liệu, xử lý chất thải) và kỹ năng xã hội (làm việc nhóm, giao tiếp).
  • Thái độ và trách nhiệm: Tác phong kỷ luật lao động, sự gắn kết với tổ chức và ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi làm việc.

4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án chỉ ra những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực khu công nghiệp? Các yếu tố ảnh hưởng được xác định gồm nhóm yếu tố bên ngoài (chính sách phát triển khu công nghiệp, hạ tầng kinh tế - xã hội, chính sách giáo dục và đào tạo, cơ chế thị trường lao động, chiến lược tăng trưởng xanh cấp quốc gia và địa phương) và nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp (chiến lược kinh doanh, nguồn lực tài chính, chính sách đãi ngộ và đào tạo nội bộ).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp quản lý kinh tế trọng tâm nào cho tỉnh Đồng Nai? Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: xây dựng quy hoạch và cơ chế chính sách ưu đãi; định hướng tổ chức giáo dục - đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp; tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện quy chuẩn lao động - môi trường; phát triển thị trường lao động và sàn giao dịch việc làm xanh; hoàn thiện chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân lực; nâng cao năng lực tự đào tạo và xây dựng văn hóa doanh nghiệp xanh trong từng cơ sở sản xuất.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Hồng Giang đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về chất lượng nhân lực khu công nghiệp trong bối cảnh tăng trưởng xanh. Dựa trên số liệu khảo sát thực chứng 284 doanh nghiệp tại 32 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, công trình đã làm rõ thực trạng trình độ chuyên môn, kỹ năng xanh và trách nhiệm môi trường của người lao động, đồng thời đo lường các nhân tố tác động từ phía quản lý nhà nước và nội tại doanh nghiệp. Hệ thống 6 nhóm giải pháp và các kiến nghị quản lý kinh tế được đề xuất trong luận án có tính thực tiễn, đóng góp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng chiến lược chuyển đổi xanh của tỉnh Đồng Nai đến năm 2030, tầm nhìn 2050.