Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp cấp tỉnh, thành phó. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP CÁP TỈNH, THÀNH PHÓ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp - Tổ chức phát trién công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) (2015), đã phân tích 05 mô hình KKT có khả năng thúc đây mạnh mẽ sự phát triển kinh tế quốc gia là: KCN, KKT đặc biệt, khu công nghệ sinh hoc, KCNC va công viên sáng tao, trong đó nhấn mạnh vai trò của KCN và KKT sẽ hai mô hình giúp các nước kém phát triển có thé rút ngăn khoảng cách với các quốc gia phát triển [31]. - Ministry of Knowledge and Economy (2013), đã nghiên cứu kinh nghiệm phát triển các KCN của Hàn Quốc thông qua thực tiễn hình thành, thực thi chiến lược và các chính sách phát triển cũng như mô hình tổ chức, quan lý các KCN [28].
- Hubert Thieriot, Dave Sawyer (2015), đã nghiên cứu thực trạng khu vực công nghiệp của Trung Quốc và tác động của khu vực công nghiệp đối với môi trường; phân tích các ưu, nhược điểm của các mô hình KCN và mục tiêu chuyền đổi mô hình các KCN truyền thống sang KCN sinh thái, BVMT và PTBV [27]. Các nghiên cứu trong nước liên quan đến quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp - Vũ Quốc Huy (2015) đã nghiên cứu vai trò của các KCN, chỉ ra những tồn tại trong công tác QLNN tại các KCN ở một số địa phương trên cả nước [ 13]. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015) đã nghiên cứu về tình hình thực hiện quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2015, đưa ra các nguyên tắc dé tiễn hành rà soát, điều chỉnh, b6 sung quy hoạch phát triển KCN trên phạm vi cả nước đến năm 2020 và giải pháp về thực hiện quy hoạch phát triển KCN [7]. - Vũ Nam Phong và các cộng sự (2015) đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến môi trường của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015, phân tích diễn biến xu hướng môi trường với những tác động đến quá trình phát triển KT-XH, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp để BVMT trong và xung quanh các KCN [17].
- Nguyễn Trường Giang (2016), đã nghiên cứu và làm rõ việc các cơ quan QLNN của tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư vào các KCN [12]. - Võ Thị Vân Khánh (2016) đã nghiên cứu và nêu ra các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài, đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá thu hút FDI, các nhân tố ảnh hưởng đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân và bài học rút ra trong thu hút và quản lý FDI thông qua khảo sát, đánh giá thực trang các hoạt động tại Ha Nội [14]. - Trần Xuân Dưỡng (2017) đã khái quát những thành công, hiệu quả tích cực trong các hoạt động xúc tiễn và thu hút đầu tư, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài tại các KCN tỉnh Hà Nam [11]. - Nguyễn Thị Thu Thủy (2018), đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững (PTBV) các KCN tại thành phố Hải Phòng trên cơ sở thực trạng công tác QLNN của chính quyền thành phó, từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý phát triển bền vững các KCN tại thành phố Hải Phòng [23].
Khoảng trống trong các nghiên cứu về QLNN các khu công nghiệp và hướng nghiên cứu tiếp theo của Luận văn Các nghiên cứu trên tuy phong phú nhưng chưa toàn diện, chỉ tập trung vào một số nội dung sau: - Khăng định ý nghĩa, tầm quan trọng của QLNN đối với KCN trong sự phát triển KT-XH. - Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các KCN, tác động tích cực và tiêu cực của KCN đến KT-XH và môi trường. - Chỉ ra xu hướng chủ đạo trong QLNN đối với các KCN hiện nay, đồng thời gợi mở những cách thức quan lý mới theo hướng “kiến tạo”, “phục vụ” nhăm thúc đây các KCN phát triển lành mạnh, bền vững. - Tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến QLNN theo chức năng và lĩnh vực hoạt động, đánh giá chất lượng, hiệu quả thực tế, kiến nghị các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả QLNN đối với các KCN.
- Các nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu tiếp cận lý luận và thực tiễn hoạt động của các KCN như một hoạt động kinh tế đơn thuần với những thách thức. - Tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong nước trên những khía cạnh khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, hệ thống hóa lý luận và tổng kết thực tiễn về QLNN đối với các KCN theo khung lý thuyết của quản lý kinh tế. - Tại thành phố Đà Nẵng, chưa có công trình nghiên cứu độc lập, bài bản và có hệ thống nào đã được công bố về QLNN các KCN, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, đòi hỏi phải có sự thay đối trong chính sách, giải pháp phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển KCN nói riêng. Trên cơ sở những khoảng trống về lý luận và thực tiễn trong QLNN đối với KCN tút ra sau tổng quan tình hình nghiên cứu, nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với các KCN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo quan điểm “kiến tạo”, “phục vụ”, đồng thời mở ra các mô hình và cách thức quản lý mới, tạo điều kiện để áp dụng rộng rãi cho nhiều địa phương trong nước, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề sau: - Bồ sung khung lý thuyết về KCN, QLNN đối với các KCN, các tiêu chí đánh giá QLNN trong tình hình mới, theo quan điểm “kiến tạo”, “phục vụ”, lấy DN làm trung tâm; - Lam rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN đối với các KCN và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, trong nước đối với các KCN và rút ra bài học từ kinh nghiệm thực tiễn của các tinh/thanh đã nghiên cứu; - Đánh giá thực trạng QLNN của chính quyền thành phố Đà Nẵng đối với các KCN trên địa bàn giai đoạn 2011 - 2020, làm rõ những thuận lợi, khó khăn, thành tựu và bat cập, nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN đối với các KCN; - Đề xuất phương hướng, các nhóm giải pháp cơ bản nhằm giúp chính quyền thành phố Đà Nẵng lựa chọn, áp dụng để nâng cao công tác QLNN đối với các KCN trên địa bàn đến năm 2030 và những năm tiếp theo trên cơ sở cập nhật bồi cảnh và yêu cầu QLNN trong tình hình mới, đồng thời tạo cơ sở đề áp dụng cho các địa phương khác khi đủ điều kiện.
Tổng quan về khu công nghiệp và quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp 1. Khái niệm, đặc điễm và vai trò của khu công nghiệp 1. Khái niệm khu công nghiệp KCN (Industrial Area) được hình thành ở các nước tư ban phát triển (Anh, Pháp, Mỹ.) vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau đó mở rộng sang các nước công nghiệp mới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore. Đến nay, các KCN được phân bồ chủ yếu tại các nước Châu A và Châu Phi.
Ở các quốc gia, tên gọi của KCN thường gắn với mục tiêu hoạt động của chính KCN đó. Ví dụ: Industrial Cluster, Export Processing Zones. Theo các chuyên gia của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO): “KCN là khu có hang rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các DN hoạt động theo bat kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hoá và hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề, một phân đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất” [31]. Ở nước ta, khái niệm KCN lần đầu tiên được đưa ra là trong Luật Đầu tư nước ngoài (1987), Nghị định 192/CP ngày 28/12/1994 và được quy định rõ hơn tại Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về ban hành quy chế KCN, KCX, KCNC, theo đó “KCN là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh song; do Chính phú hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thể có DN chế xuất ”.
Khái niệm KCN sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện tại Luật Dau tư 2005, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ, sau đó là Luật Đầu tư 2014, Nghị định 164/2013/NĐ-CP và Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ và mới đây nhất chính là tại Luật Đầu tư 2020, theo đó: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong Luận văn này, khái niệm KCN được hiểu theo quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý KCN và KKT, theo đó: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định”. Như vậy, cách hiểu về KCN theo quy định của Việt Nam khá gần với quan niệm của UNIDO do đều nhấn mạnh và làm rõ đặc trưng về kinh tế, phạm vi không gian và tính liên kết trong đầu tư. Các đặc điểm của khu công nghiệp * Đặc điểm tự nhiên KCN là khu vực được xây dựng dé phát triển công nghiệp, phù hợp với điều kiện tự nhiên, có không gian nhất định, có quỹ đất lớn, có tính liên vùng, có vi tri địa lý thuận lợi, có nhiều lợi thế trong xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thương, có phạm vi ảnh hưởng đến các khu vực xung quanh.
* Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật - Kết cau hạ tang được đảm bảo bởi công ty phát triển hạ tang KCN, công ty dịch vụ KCN.