Chương 1: Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương 1. Hội đồng nhân dân một kênh để nhân dân thực hiện quyền dân chủ gián tiếp Từ khi nhân loại tiến sang mô hình dân chủ, mọi người đều nhất trí rằng quyền lực thuộc về nhân dân; nhà nước được thành lập ra do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân có thể trực tiếp hành xử quyền lực hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện. Hội đồng nhân dân là một trong số cơ quan đại diện, cùng với Quốc Hội, giúp nhân dân thực hành quyền dân chủ gián tiếp.
Hội đồng nhân dân được lập ra; đó là một tổ chức có tính chất quần chúng, bao gồm các đại biểu mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, công nhân, nông dân, trí thức cùng nhau bàn bạc và giải quyết mọi công việc quan trọng của địa phương. Như vậy, Hội đồng nhân dân lập ra gắn liền với tính dân chủ, vì là tập thể nhân dân rộng lớn nên tất yếu phải cử hoặc bầu chọn những người có đủ điều kiện, tiêu biểu xứng đáng đại diện nhân dân, những người dân cử đó, được xác lập đại diện nhân dân trên phạm vi địa bàn nhất định. Ở Việt Nam, Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên1.1] Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân.
Vị trí Hội đồng nhân dân Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.3] Do đó, Hội đồng nhân 1 Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2 Điều 111, Hiến pháp năm 2013 9 dân là một trong hai thành tố cấu thành nên chính quyền địa phương, thành tố đầu tiên và chủ yếu trong việc lập ra Ủy ban nhân dân cùng cấp. Vai trò Hội đồng nhân dân Hoạt động quản lý nhà nước luôn được phân cấp và chính quyền địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, theo đó, Hội đồng nhân dân có vai trò quyết định chính đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần nên hiệu quả tổng thể nền công vụ đất nước. Các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức chính quyền địa phương nước ta đã khẳng định vị trí, mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, mối quan hệ chính quyền địa phương với hệ thống chính trị.
Hiến pháp đã xác định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân3. Với khẳng định trên cho thấy, nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và Hội đồng nhân dân giữ vai trò trực tiếp đến thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời nơi giữ vai trò quyết định trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương, quyết định chính sách, biện pháp địa phương và căn cứ để hình thành nên chính sách trong phạm vi vùng, khu vực và cả nước. Việc khẳng định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, chỉ ra vai trò quan trọng của Hội đồng nhân dân không chỉ đối với chính quyền địa phương mà liên quan đến quyền lực tổng thể Nhà nước, đây là vấn đề lớn của thể chế chính trị.
Do đó, thực tiễn cũng chỉ ra có nhiều quan điểm về vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân. Cần thấy quan điểm không nên xác định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, mà chỉ xác định Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Quan điểm này cho rằng ở nước ta quyền lực Nhà nước là thống nhất và tập trung ở Quốc hội. Chỉ có Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hội đồng nhân dân chỉ là cấp thừa hành, mọi nghị 3 Điều 113, Hiến pháp năm 2013 10 quyết của Hội đồng nhân dân được ban hành phải trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên. Do Hội đồng nhân dân là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước thống nhất của nhân dân, chứ không phải và không thể là cơ quan tự quản như các cơ quan dân cử địa phương ở một số nước4. Cho nên việc xác định vai trò của Hội đồng nhân dân ở chính quyền địa phương cần khẳng định được cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân Hình thành Hội đồng nhân dân bắt nguồn trực tiếp từ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân nên Hội đồng nhân dân có bốn nhóm chức năng chính: Thành lập ra các cơ quan nhà nước khác.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Quyết định vấn đề ngân sách, các vấn đề quan trọng của địa phương. Giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước địa phương khác. Luận văn này tập trung phân tích chức năng thứ tư của Hội đồng nhân dân: Chức năng giám sát.
Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý5 [38, tr. Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân6. Tiếp cận từ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có thể hiểu hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện là sự theo dõi, xem xét, đánh giá, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền của Hội đồng nhân dân huyện hoặc theo yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Như vậy, giám sát của Hội đồng nhân dân có phạm vi rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương, trong toàn bộ quá trình hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả lĩnh vực địa phương mà pháp luật quy định.
Giám sát của Hội 4 Trương Đắc Linh, Một số ý kiến về vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân và việc thành lập Ủy ban nhân dân các cấp, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 3/2001 5 Khoản 1, Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 6 Khoản 6, Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 11 đồng nhân dân trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội là một bộ phận của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. Bất kỳ ở đâu, bất kỳ khi nào có hoạt động quản lý nhà nước thì ở đó và khi đó luôn cần sự giám sát và điều đó vai trò giám sát cuả Hội đồng nhân dân được đảm bảo thực hiện theo quy định pháp luật là biện pháp để hiệu quả quản lý nhà nước được thực hiện. Các hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân7, gồm: Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định; xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn; xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát chuyên đề; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân Trong hoạt động quản lý, khi đối tượng quản lý thay đổi thì biện pháp thực hiện quản lý cũng thay đổi, do đó, trong hoạt động quản lý nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Hội đồng nhân dân cũng thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù đơn vị hành chính lãnh thổ.
Tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta được xác lập ở các đơn vị hành chính ở nông thôn và đô thị, cụ thể như sau: Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn8.