CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC STARE DECISIS -1. Khái quát về hệ thống pháp luật Common Law 1. Định nghĩa thuật ngữ “Common Law” Hiện nay, có nhiều cách hiểu về thuật ngữ “Common Law” (tạm dịch trong tiếng Việt nghĩa là Luật chung), các cách hiểu lại phân ra nhiều cấp độ cụ thể như sau 4: Cách hiểu thứ nhất tương ứng với cấp độ một thì thuật ngữ “common law” (viết thường) xuất hiện vào thế kỷ XIII ở Anh với mục đích là để phân biệt giữa luật và tập quán của các địa phương (hay còn gọi là luật Anglo Saxon). Những luật và tập quán này được áp dụng theo nguyên tắc của địa phương, chỉ có hiệu lực ở một đơn vị lãnh thổ nhất định; với “common law – luật chung” thì đây là luật do Tòa án Hoàng gia Anh ban hành được áp dụng chung thống nhất trên toàn lãnh thổ nước Anh.
Bên cạnh đó, ở cấp độ một thuật ngữ này cũng còn có cách hiểu thứ hai đó là dùng để phân biệt với “equity law – luật công bằng”, “common law” dùng để chỉ “luật” chứ không phải là lẽ phải, lẽ công bằng. Vì lúc này trong giới thẩm phán, luật gia Anh cho rằng chỉ Thông luật mới là “luật” còn lại thì không phải. Ở cấp độ thứ hai, tương ứng với cách hiểu thứ ba thì “common law” còn được hiểu là “án lệ”, lúc này án lệ bao gồm cả Tòa Công bằng và tòa Thông luật, tức bao gồm cả bộ phận “equity law”. Ở cấp độ thứ ba, tương ứng với cách hiểu thứ tư thì “commom law” được coi là toàn bộ pháp luật Anh như luật công bằng, luật chung, luật thành văn… Ở cấp độ thứ tư, cách hiểu cuối cùng thì “Common Law” (viết hoa) dùng để chỉ nhóm hệ thống pháp luật của các quốc gia độc lập nh.au nhưng đều có nguồn gốc từ luật Anh, thường dùng để chỉ dòng họ hay gia đình pháp luật.
Ta thấy, càng về sau thì cách hiểu của thuật ngữ “common law” càng được mở rộng, từ khi mới được hình thành với vai trò chỉ là dùng để phân biệt luật địa phương và luật nhà nước đến ngày nay nó được dùng để nói cho cả một hệ thống pháp luật. Cho thấy được rằng thông luật đã cùng phát triển với nước Anh, trong quá trình bành 4 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), tlđd, tr. 10 trướng thuộc địa của mình, người Anh đã làm thông luật lan rộng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới và đưa nó trở thành một hệ thống pháp luật lớn như hiện nay. Đặc điểm hệ thống pháp luật Common Law Common law được hình thành từ nước Anh, nên đồng thời nó cũng mang đặc điểm gắn liền với lịch sử đất nước và dân tộc Anh với những đặc điểm nổi bật sau: Đầu tiên, thông luật được hình thành bằng con đường tư pháp chứ không phải thông qua con đường lập pháp.
Sở dĩ có điều này vì thông luật ra đời và phát triển thông qua việc hình thành và củng cố quyền lực của hệ thống Tòa án Hoàng gia. Khác với hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa những quy định của pháp luật được quy định trong các bộ luật cụ thể của cơ quan lập pháp, còn ở thông luật các quy định pháp luật lại được quy định trong các bản án của cơ quan tư pháp. Lúc này, ở Anh tình trạng phân quyền cát cứ rất mạnh, luật địa phương có ảnh hưởng mạnh hơn luật nhà vua ban hành, để hạn chế quyền lực lãnh chúa ở địa phương thì nhà vua mới cho các thẩm phán Hoàng gia tới địa phương xét xử rồi khi các thẩm phán về lại thủ đô họ đã trao đổi những kinh nghiệm với nhau. Người này học hỏi người kia, các Thẩm phán đem bản án đã xét xử áp dụng các địa phương khác, dần dần hình thành chung với nhau một cách xét xử đối với các vụ việc tương tự nhau.
Thế là luật được hình thành thông qua việc xét xử mà không phải do bất kỳ cơ quan quyền lực nào ban hành. Cũng không có bất kỳ một quy định nào bắt buộc áp dụng mà được áp dụng dựa vào ý chí của các thẩm phán. Kế đến, đặc điểm thứ hai là các luật gia Anh coi trọng thủ tục tố tụng hơn là luật nội dung. Nguyên nhân của đặc điểm này đó là do sự tồn tại hệ thống trát (writ) tức nếu không có trát thì sẽ không được xét xử.
Trát chính là hệ thống các hình thức khởi kiện mà người dân căn cứ vào đây để khởi kiện, mỗi loại vụ việc được liệt kê trong trát sẽ có một thủ tục xét xử khác nhau. Nên việc đầu tiên khi người dân đi khởi kiện là phải xác định vụ việc của mình có thuộc một trong các loại trát hay không. Nếu không thuộc trát hoặc xác định sai loại thì cũng sẽ không được giải quyết. Nhưng xã hội phát triển không ngừng, những danh mục trong trát không đủ để điều chỉnh các 11 quan hệ mới phát sinh.
Mặc khác, việc ban hành trát mới là điều không dễ dàng bởi sẽ gặp phải sự phản đối của lãnh chúa, khi mở rộng trát tức thẩm quyền Nhà vua cũng sẽ được mở rộng và quyền lực của lãnh chúa sẽ bị ảnh hưởng. Do sự mâu thuẫn của giai cấp cầm quyền mà làm cho Thông luật bị hạn chế, người dân cũng khó tiếp cận công lý. Tiếp theo, thông luật Anh lại không phân chia thành luật công và luật tư như ở Châu Âu lục địa. Có thể lý giải sự không phân chia này là do sự tồn tại của hệ thống trát, trát được ban hành nhân danh Nhà vua, dẫn đến việc tranh chấp giữa các cá nhân với nhau đã trở thành tranh chấp giữa Hoàng gia và bên vi phạm trong mối quan hệ cá nhân đó.
Do đó, pháp luật Anh hoàn toàn mang tính chất công. Quá trình hình thành thông luật Anh mang tính liên tục và có tính kế thừa là một trong những đặc điểm giúp nó tồn tại đến ngày nay. Pháp luật Anh mang tính liên tục vì nước Anh chưa trải qua một cuộc biến động nào làm thay đổi bản chất xã hội của pháp luật. Tính kế thừa của pháp luật Anh có được do lịch sử phát triển của nước Anh cho thấy hầu như không có sự thay đổi toàn diện về bản chất xã hội.
Mà nguyên nhân chủ yếu đó là do tính cách cứng nhắc, bảo thủ của người Anh, các thẩm phán đã tự nguyện tuân thủ các phán quyết của Thẩm phán đã có trước dù các phán quyết ấy đã rất lâu đời. Khác với Anh, thông luật Mỹ có tính kế thừa nhưng lại không mang tính liên tục bởi lịch sử nước Mỹ trải qua cuộc chiến tranh thay đổi bản chất xã hội đó là sự kiện 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ giành độc lập dân tộc, lúc này dân tộc Mỹ từ dân tộc lệ thuộc, thuộc địa đã giành được tự do. Nên hiển nhiên sau khi giành độc lập, thoát khỏi sự cai trị của người Anh thì người Mỹ không muốn tiếp tục áp dụng luật pháp của người Anh nữa, do đó tất yếu quá trình thông luật phát triển bị gián đoạn. Cùng với đó, trong thời kỳ đầu mới du nhập thì thông luật là một hệ thống pháp luật phát triển hơn nên không phù hợp với trình độ phát triển ở Mỹ, hơn nữa vì trong thông luật Anh có những quy định về tự do, dân chủ điều này không thích hợp để áp dụng ở Mỹ - nước bị cai trị nhằm để củng cố quyền lực của Hoàng gia Anh; cho nên thông luật chỉ áp dụng một cách chọn lọc trên đất nước Mỹ mà không mang tính liên tục như ở Anh.
12 Một mặt khác, một đặc điểm khác ở thông luật chính là thông luật Anh chủ yếu sử dụng chế tài phạt tiền trong lĩnh vực dân sự. Điều này đã làm cho thông luật bị hạn chế trong khi các quan hệ dân sự ngày càng phát triển, chế tài phạt tiền lại không đủ tính răn đe để đáp ứng sự thay đổi mau chóng của xã hội. Cuối cùng, đặc điểm tạo tiền đề cho sự tồn tại của thông luật Anh nói riêng hay hệ thống pháp luật thông luật nói chung đó là nguyên tắc “stare decisis” hay nói cách khác đó là nguyên tắc “tiền lệ phải được tuân thủ”. Đóng vai trò là nguyên tắc xương sống cho sự tồn tại và ổn định của Thông luật Anh.
Như vậy, hệ thống pháp luật “Common Law” có những đặc điểm riêng được hình thành từ đời sống chính trị, xã hội của người Anh. Bằng sự mở rộng thuộc địa của mình, Hoàng gia Anh đã áp dụng pháp luật của mình lên các nước thuộc địa đem thông luật trở thành một trong truyền thống pháp luật lớn và phổ biến trên thế giới hiện nay. Nguyên tắc Stare decisis5 trong hệ thống pháp luật Common Law 1. Định nghĩa Nguyên tắc Stare decisis trong Tiếng Anh còn được thể hiện bằng nhiều cụm từ khác nhau như: “doctrine of precedent”, “doctrine of stare decisis”.
Thuật ngữ “stare decisis” có nguồn gốc từ tiếng Latin là: “stare decisis at non quiet movere”. Cụm từ này dịch sang tiếng Anh là: “stand by the thing decided and do not disturb the clam” có thể tạm dịch là “hãy giữ điều gì đã được quyết định và đừng thay đổi”.6 Như vậy, ta có thể hiểu một cách ngắn gọn nội dung yêu cầu nguyên tắc án lệ là các Tòa án phải tuân theo hay dựa vào các quyết định của Tòa án trước (án lệ) để xét xử. Vậy vấn đề đặt ra là tiêu chuẩn hay điều kiện nào để Tòa án tuân theo, dựa vào các quyết định của Tòa án trước đã xét xử? Nguyên tắc “stare decisis” được thực hiện dựa trên nguyên tắc “like cases must be decided alike” (tạm dịch là “các vụ việc giống nhau 5 Nguyên tắc Stare decisis thường được gọi với tên Tiếng Việt là tiền lệ phải được tuân thủ (tên gọi theo Tài liệu hướng dẫn học tập môn Luật so sánh, Trường Đại học Luật TP.HCM) hoặc nguyên tắc án lệ (theo tác giả Đỗ Thanh Trung) tùy theo quan điểm của các học giả khác nhau. 6 Đỗ Thành Trung, “Một số vấn đề lý luận về án lệ trong hệ thống Thông luật”, Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam, số 02/2016, tr.
13 phải được giải quyết như nhau”. 7 Và nội dung của nguyên tắc này có thể hiểu theo nghĩa chính xác hơn là “các vụ việc có các tình tiết có tính chất tương tự phải được giải quyết dựa trên lý lẽ tương tự”.