Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Người dưới 18 tuổi phạm tội là một vấn đề, hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo đó, mỗi quốc gia giải quyết vấn đề này dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tập quán, pháp luật mà có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều nhằm mục đích tôn trọng, bảo vệ các quyền, lợi ích của người dưới 18 tuổi phạm tội và giáo dục, cải tạo, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Công ước này cũng ghi nhận: “Ghi nhớ rằng do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời như đã chỉ ra trong Tuyên ngôn về quyền trẻ em. Không trẻ em nào bị tra tấn hoặc bị đối xử hoặc trừng phạt tàn tệ, vô nhân đạo hay làm mất phẩm giá; không được xử tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng phóng thích. Ngoài ra, không một trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện.
Việc bắt giam, giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo luật pháp và chỉ được sử dụng đến như một biện pháp cuối cùng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất” (Điều 37). Hiện nay, ngày càng nhiều quốc gia đã đưa các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về tôn trọng và bảo vệ các quyền của người dưới 18 tuổi vào trong các văn bản của pháp luật quốc gia, đồng thời, việc tăng cường bảo vệ các quyền của trẻ em, quyền của người dưới 18 tuổi cũng là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và nhiều chương trình của Liên hợp quốc. Bởi lẽ, trẻ em - người dưới 18 tuổi 7 trong pháp luật nói chung và trong pháp luật hình sự nói riêng là một vấn đề được cả thế giới quan tâm. Tuy nhiên, những năm gần đây, tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội đang ngày một tăng cả về số lượng, tính chất lẫn mức độ vi phạm nghiêm trọng mà Hội nghị lần thứ tám của Liên hợp quốc về phòng ngừa và xử lý tội phạm coi đó là “vấn đề toàn cầu” [12, tr.
Khái niệm về trẻ em hay người dưới 18 tuổi, trong pháp luật quốc tế không dựa vào những đặc điểm tâm - sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần. mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi (đều giới hạn là dưới 18 tuổi); đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia, tùy điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, truyền thống, lịch sử, phong tục và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ở nước mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn. Xuất phát từ khách thể của các quan hệ xã hội cần bảo vệ trong pháp luật Việt Nam, mà từng ngành luật của nước ta có sự quy định về độ tuổi khác nhau. Điều 20, 21 của BLDS Việt Nam quy định: “Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên”; “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”; Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
Theo luật hình sự Việt Nam, người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, chưa có đầy đủ quyền, nghĩa vụ công dân; chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện là đúng, hay sai cũng như ý thức được phần nào, việc gì là đúng pháp luật, việc gì là trái pháp luật, bị pháp luật cấm. Sự hiểu biết của họ về các mặt của cuộc sống xã hội cũng chưa đủ để có thể lựa chọn và quyết định cách xử sự phù hợp với chuẩn mực của xã hội. “Ở người dưới 18 tuổi đang diễn ra một sự biến đổi sâu sắc về sinh học, có những mâu thuẫn gay gắt trong sự phát triển nhân cách - tâm lý. Sự phát triển về thể chất và về các đặc điểm nhân thân khác của người dưới 18 tuổi chịu sự tác động có tính quyết định của môi trường sống và dẫn đến một thực tế là: Họ không biết, hiểu sai hoặc không chấp nhận các chuẩn mực hiện hành” [15, tr.
Vì vậy, pháp luật hình sự Việt Nam không coi người dưới 18 tuổi phạm tội là người có năng lực TNHS đầy đủ như những người đủ 18 trở lên tuổi phạm tội. Đồng tình với quan điểm này, GS. Lê Cảm và TS. Đỗ Thị Phượng khẳng định “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có 8 năng lực TNHS chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [11, tr.
Các tác giả chỉ ra năm dấu hiệu cơ bản về người dưới 18 tuổi phạm tội dưới khía cạnh pháp lý hình sự là: 1) Từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi; 2) Có năng lực TNHS chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm tâm sinh lý; 3) Đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; 4) Hành vi mà người dưới 18 tuổi thực hiện là hành vi bị pháp luật hình sự cấm; 5) Có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi đó [11, tr. Căn cứ vào quy định tại Chương XII của BLHS năm 2015 và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, cũng như các đặc điểm liên quan đến tâm - sinh lý, điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, lịch sử, truyền thống của nước ta và trên cơ sở kết quả của nhiều công trình khoa học nghiên cứu về người dưới 18 tuổi phạm tội, chúng ta có thể hiểu khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do Tòa án nhân danh n hà nước áp dụng đối với người phạm tội tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó thực hiện theo một trình tự, thủ tục tố tụng đặc biệt. Nguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo có tính nguyên tắc trong xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi pham tội nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi phạm tội phù hợp với Công ước và pháp luật quốc tế về quyền trẻ em góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện. Với phương châm giúp các em nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. 9 Mặt khác, con người không phải sinh ra đã có năng lực TNHS mà phải trải qua một quá trình hoạt động, giáo dục nhận thức trong điều kiện hoàn cảnh xã hội cụ thể và khi đạt đến một độ tuổi nhất định thì mới có năng lực TNHS đầy đủ (tức là có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi). Điều 12 BLHS năm 2015 quy định tuổi chịu TNHS, như sau: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm”. Như vậy, theo pháp luật hình sự Việt Nam, người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Trong đó, nhà làm luật đã phân hóa TNHS của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bằng cách quy định những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về những tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 2, Điều 12, BLHS), còn những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu TNHS về mọi tội. Việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng căn cứ quy định tại Điều 9 của BLHS năm 2015. Mặt khác, Điều 90 BLHS năm 2015, quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”. Theo đó, những người dưới 14 tuổi phạm tội không phải chịu TNHS về hành vi mà họ thực hiện cho dù hành vi đó có dấu hiệu của tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS.
Bởi các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự cho rằng người dưới 14 tuổi chưa có năng lực TNHS, họ chưa có ý thức đúng đắn về hành vi vi phạm pháp luật. Mặc dù, có một số em tuy dưới 14 tuổi nhưng đã có ý thức tương đối đầy đủ về các hành động sai trái, vi phạm pháp luật, thậm chí có cả các hành động có tính chất nguy hiểm lớn cho xã hội, mà BLHS quy định là tội phạm.