Chương 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VE NGUYEN TAC HAI CAP 10 XÉT XU TRONG TO TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM lel. ‘Khai niệm, nội dung, ý nghĩa của nguyên tac hai cap xét xử 10 trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái quát lịch sử nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình 42: sự Việt Nam trước khi han hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Chương 2: QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT TÓ TỤNG 59 HÌNH SỰ VIỆT NAM VE NGUYEN TAC HAI CAP XÉT XỬ VÀ THỰC TIEN THI HANH 2. Quy định hiện hành của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về 59 nguyên tắc hai cấp xét xử 2222, Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về nguyên tắc hai 90 cap xét xử trong tô tụng hình sự Việt Nam Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NANG CAO HIỆU QUA NGUYEN TAC 118 HAI CAP XÉT XU TRONG TO TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM \ l | ` 2 c ° A r 7 3.
Điêu kiện dé thực hiện có hiệu qua nguyên tac hai cap xét xử. 118 và yêu cầu đối với các giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc/. này trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam | ene Ld ` cA [4 A A ` x A° ve 4 is luan Giải pháp hoan thiện pháp luật tô tụng hình su và đôi mới tô 129 chức Tòa án nhân dân theo nguyên tắc hai câp xét xử | 3. Cac giai pháp khác nâng cao hiệu quả nguyên tac hai cap xét xử 164 trong tô tụng hình sự KET LUẬN 187 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIÁ Đà CÔNG BÓ CÓ LIÊN QUAN 191 DEN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 192 PHỤ LỤC N =œ 3 DANH MỤC TỪ VIET TAT BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CNXH : Chủ nghĩa xã hội DTV : Điều tra viên HDXX : Hội đồng xét xử HLPL : Hiệu lực pháp luật KSV : Kiểm sát viên TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TAQS : Tòa án quân sự TAQSTU : Tòa án quân sự trung ương TTHS : Tổ tụng hình sự VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN : Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BIEU DO Số hiệu Tên biểu đồ Trang biểu đồ 2.1 Lượng án tồn đọng tại Tòa án nhân dân cấp huyện các 92 năm từ năm 2002 đến năm 2005 và năm 2007 (năm 2006 không thống kê chỉ tiết) Lid Số lượng án sơ thâm tồn đọng tại Tòa án nhân dân cấp tinh các 94 năm từ năm 2002 đến năm 2005 và năm 2007 (năm 2006 không thống kê chỉ tiết) 2.3 Tỷ lệ số vụ án đã giải quyết, xét xử phúc thâm/ tổng số vụ 95 án đã xét xử sơ thâm trong các năm từ năm 2002 - 2007 2.4 Tỉ lệ sửa án và hủy án sơ thâm của Tòa án phúc thẩm trên 99 tong số bị cáo đã xét xử phúc thâm trong các năm từ năm 2002 - 2007 2.) Tình hình giải quyết án ở cấp phúc thẩm- tỷ lệ án đã giải 106 quyết, xét xử và án tồn đọng so với số lượng án thụ lý trong các năm từ năm 2002 đến năm 2007 2.6 So lượng án chưa giải quyét, xét xử phúc thâm/ sô vụ an | 107 thụ lý tại các Tòa án cấp tỉnh các năm từ năm 2002 đến năm 2005 và năm 2007 2.7 Số lượng án chưa giải quyết, xét xử/ số vụ án thụ lý tại ba 108 tòa phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao các năm từ năm 2002 đến năm 2007 2.8 Diễn biến tình hình hủy án phúc thẩm giữ nguyên án sơ 114 thâm qua việc giám đốc thâm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tôi cao DANH MUC CAC BANG Tén bang Trang Tỉ lệ số vụ án đã giải quyết, xét xử phúc thâm / tổng số vụ 95 án đã xét xử sơ tham trong các năm từ năm 2002 - 2007 Dade Ti lệ số kháng cáo, kháng nghị bị rút và tỷ lệ giữ nguyên 98 án sơ thâm/ số bị cáo đã thụ lý, xét xử của Tòa án cấp phúc thâm toàn ngành trong các năm từ năm 2002 - 2007 2.3 Tỉ lệ sửa án và hủy án sơ thâm của Tòa án cấp phúc thâm 98 trong các năm từ năm 2002 - 2007 2.4 Ti lệ vụ án đã giải quyết, xét xử phúc thâm và tỷ lệ vụ án 106 chưa giải quyết, xét xử phúc thâm / tổng số vụ án Tòa án cấp phúc thấm đã thụ lý trong các năm từ năm 2002 đến năm 2006 La Chất lượng xét xử phúc thâm qua công tác giám đốc thâm, 114 tái thâm của Tòa án nhân dân tối cao trong các năm từ năm 2002 đến hết quý 3 năm 2004 MỞ DAU 1.Tính cấp thiết của đề tài Xét xử là hoạt động nhà nước đặc biệt do Tòa án tiến hành nhằm giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế, hành chính theo một trình tự pháp lý nhất định, trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, của tổ chức và công dân.
Trong hoạt động xét xử các loại vụ án thì xét xử các vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, vì đây là hoạt động giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người đó. Đặc điểm của hoạt động xét xử các vụ án hình sự là có thé đưa đến một hậu quả pháp bat lợi cho người bị xét xử cũng như những người khác có liên quan. Vì vậy, bản án, quyết định của Tòa án (Hội đồng xét xử) khi xét xử phải đảm bảo chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp ngay từ đầu phán quyết của Tòa án đã đảm bảo được yêu cầu này.
Do đó, pháp luật quy định các thủ tục tố tụng xét xử khác nhau sao cho một vụ án có thể được xét xử ở các cấp khác nhau nhằm mục đích giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử là một tat yếu khách quan phù hợp với quy luật của nhận thức và thực tiễn xét xử. Lịch sử lập pháp của nước ta đã có quy định việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử từ ngay sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công, được thé hiện trong các sắc lệnh quy định về tô chức các Tòa án và thâm quyền của Tòa án. Đặc biệt, trong Luật Tổ chức TAND ngày 14/7/1960, lần đầu tiên có một điều luật quy định về nguyên tắc này (Điều 9).
Mặc dù trong các Luật Tô chức TAND tiếp theo (ban hành trong các năm 198], 1992) hoặc trong BLTTHS năm 1988 cũng như các luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật này (ban hành trong các năm 1990, 1992, 2000) nguyên tắc hai cấp xét xử không còn được quy định trực tiếp trong một điều luật riêng như trong Luật Tổ chức TAND năm 1960, nhưng vẫn được quy định gián tiếp trong các chế định pháp luật vé thủ tục xét xử sơ thâm, phúc thâm và thực tiễn xét xử vẫn áp dụng nguyên tac này ở những mức độ nhất định. Có thé nói, đây là một nguyên tắc tố tụng được quy định rất sớm nhưng việc nhận thức và áp dụng trong thực tiễn không phải lúc nào cũng đúng đắn và thống nhất. Thực tế cho thấy trong một thời gian tương đối dai ké từ năm 1958 khi Quốc hội ra quyết định thành lập TANDTC đến trước khi ban hành BLTTHS năm 2003, về thủ tục tố tụng cũng như về tổ chức Tòa án, nhất là các quy định về thâm quyền của Tòa án, ở Việt Nam dường như ton tại đến ba cấp xét xử, đó là cấp sơ thâm, cấp phúc thâm và cấp giám đốc thâm. Cá biệt có vụ án hình sự được giải quyết bởi nhiều hơn ba cấp xét xử (sơ thâm ở Tòa án cấp huyện, phúc thâm ở Tòa án cấp tỉnh, giám đốc thâm tại Tòa hình sự TANDTC và Hội đồng thâm phán TANDTC).
Điều này dẫn đến việc giải quyết các vụ án hình sự bị kéo dài, ảnh hưởng không nhỏ tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của các cơ quan, tô chức hữu qua, tất yếu sẽ làm chậm phát huy hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm của hoạt động xét xử. Về chất lượng xét xử cũng còn nhiều hạn chế, tình trạng tồn đọng án, xét xử oan, sai vẫn còn không ít. Trên phương diện lý luận, hiện nay đáp án cho một số câu hỏi liên quan đến nguyên tắc này như: thế nào là cấp xét xử; cấp xét xử là hình thức tổ chức toà án để xét xử hay là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử; cần tổ chức xét xử theo mấy cấp và tô chức như thế nào để đảm bảo xét xử đúng đắn, khách quan, hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng xét xử sai, loại trừ việc xét xử oan, bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tô chức?. vẫn còn những quan điểm khác nhau.
Một trong các lý do của thực trạng đó đã được xác định tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng va hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 là ". thiết chế đảm bảo thi hành pháp luật còn thiếu và yếu. công tác nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn", Đứng trước tình hình đó, việc nghiên cứu về "nguyên tắc hai cấp xét xử trong to tụng hình sự Việt Nam” một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiền, xác định những hạn chê, vướng mắc trong thực tiễn thi hành nguyên tắc này, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS là rất cần thiết trong giai đoạn hiện tại. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm được Bộ Chính trị xác định tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 là: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tô chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp.