chương 1, sinh viên được trang bị những kiến thức về: - Lịch sử ra đời và phát triển của kế toán; khái niệm, đặc điểm của kế toán; phân loại kế toán. - Nhận dạng và phân loại được các đối tượng mà kế toán phải phản ánh và giám đốc. - Các phương pháp kế toán được áp dụng để phản ánh và giám đốc các đối tượng kế toán. - Môi trường pháp lý của kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam - Các yêu cầu đối với kế toán, các khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bản.
Khái niệm về hạch toán kế toán 1. Hạch toán và các loại hạch toán Mọi người trong chúng ta đều phải sử dụng thông tin khi cần đưa ra quyết định, thông tin không đầy đủ, hay thông tin thiếu chính xác đều có thể đưa đến các quyết định sai lầm. Đối với một tổ chức, thông tin để cung cấp cho những đối tượng cần sử dụng thông tin thường được thực hiện qua các bước: - Quan sát: quan sát các quá trình, các hiện tượng kinh tế nhằm biết được các đối tượng tham gia vào các quá trình, các hoạt động kinh tế. - Đo lường: sử dụng các thước đo thích hợp để đo lường mức độ hao phí của các đối tượng khi tham gia vào các quá trình kinh tế.
Có 3 loại thước đo chủ yếu: + Thước đo hiện vật: Việc đo lường được thực hiện bằng phương thức cân, đo, đong, đếm… Đơn vị dùng để thể hiện thước đo hiện vật tùy thuộc vào đối tượng được đo lường. Ví dụ: trọng lượng (tấn, tạ, kg), thể tích (m3), diện tích (m2, ha), độ dài (m),… là những đơn vị đo lường hiện vật. Thước đo hiện vật có một hạn chế là không thể dùng để tổng hợp số liệu của nhiều loại tài sản khác nhau. + Thước đo giá trị: là việc sử dụng tiền tệ làm thước đo.
Thước đo tiền tệ cho phép tính toán các chỉ tiêu tổng hợp và cả các chỉ tiêu chi tiết của mọi đối tượng cần đo lường. + Thước đo thời gian lao động: được sử dụng để xác định số lượng thời gian lao động hao phí trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Đơn vị dùng để thể hiện thời gian lao động là ngày công, giờ công… Thước đo thời gian lao động thường được sử dụng 1 Downloaded by Tâm Nguy?n Hoàng (ntam45599@gmail.com) lOMoARcPSD|18505526 để tính toán các chỉ tiêu chi tiết, làm căn cứ cho việc tính công, trả lương, phối hợp với thước đo hiện vật để đưa ra định mức lao động - Tính toán: là việc sử dụng các phép tính, các phương pháp tổng hợp, phân tích để xác định các chỉ tiêu kinh tế cần thiết cho quản lý và ra quyết định. - Ghi chép: là việc thu thập, xử lý và ghi nhận lại tình hình và kết quả của các hoạt động kinh tế theo trình tự và phương pháp nhất định, giúp cho việc phản ảnh và kiểm tra một cách có hệ thống các hoạt động đó.
Việc quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép nhằm cung cấp thông tin cho việc phản ảnh và giám sát các quá trình kinh tế gọi là hạch toán. Căn cứ theo đối tượng, chức năng và phương pháp nghiên cứu, hạch toán được chia làm 3 loại: - Hạch toán nghiệp vụ: Là loại hạch toán áp dụng đối với các đối tượng quản lý cụ thể nhằm cung cấp thông tin cho việc chỉ đạo thường xuyên và kịp thời đối với đối tượng. Đối tượng nghiên cứu của loại hạch toán này là các nghiệp vụ kinh tế, kỹ thuật cụ thể (chủng loại, số lượng nguyên vật liệu xuất dùng, ngày công, giờ công,. Loại hạch toán này không chuyên dùng một loại thước đo nào và cũng không có hệ thống phương pháp riêng.
- Hạch toán thống kê: Là loại hạch toán được thực hiện nhằm nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng tự nhiên, xã hội, kinh tế .trong những điều kiện cụ thể, nhằm rút ra bản chất và những quy luật số lớn về sự vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng đó. Đối tượng nghiên cứu của hạch toán thống kê không chỉ là các quá trình kinh tế mà cả các quá trình tự nhiên, xã hội.Hạch toán thống kê có hệ thống phương pháp riêng như phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp chỉ số. và sử dụng cả 3 loại thước đo, tùy theo đối tượng nghiên cứu. - Hạch toán kế toán: Hạch toán kế toán còn được gọi tắt là kế toán (dưới đây gọi là kế toán), đây là loại hạch toán nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính của các tổ chức kinh tế, xã hội.
Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của kế toán trên thế giới Kế toán đã xuất hiện từ hàng ngàn năm trước đây. Các ghi chép kế toán cổ nhất được tìm thấy là các hòn đất sét có niên đại khoảng 7.500 năm trước công nguyên. Tuy nhiên, đến khoảng năm 1200 đến 1350, phương pháp ghi sổ kép mới dần hình thành ở khu vực Genoa-Venice-Florence (Ý). Năm 1494, Luca Paciolo, một nhà toán học người Ý, đã viết quyển sách có nhan đề “Summa de Arithmetica Geometria Proportioni et Proportionnalita” (tạm dịch: Tất cả mọi thứ về hình học, số học và tỷ lệ).
Trong đó, Pacioli chính thức chuẩn hóa phương pháp kế toán ghi sổ kép đã được các doanh nghiệp và các thương nhân sử dụng vào giai 2 Downloaded by Tâm Nguy?n Hoàng (ntam45599@gmail.com) lOMoARcPSD|18505526 đoạn này. Quyển sách có khoảng 36 chương dành cho việc giải thích chi tiết cách dùng sổ nhật ký, sổ cái và tài khoản, bao gồm: 16 chương trình bày về cách sử dụng tài khoản và sổ cái khi ghi sổ kép, 16 chương về các vấn đề chung như các khoản tiền gửi vào và rút ra, khóa sổ kế toán và tính số dư… Pacioli lưu ý rằng nguyên tắc quan trọng cần nhớ khi ghi sổ kép là giá trị ghi nợ (Debitore) và giá trị ghi có (Creditore) phải bằng nhau. Thuật ngữ “Nợ”, “Có” mà hiện nay kế toán sử dụng có nguồn gốc từ hai chữ Latin này. Nhờ có báo in, quyển Summa được in và lan rộng khắp Châu Âu.
Cho đến trước thời kỳ Đại Suy Thoái (từ năm 1929 đến hết các năm 1930), các quy định về kế toán và báo cáo tài chính được đề cập rất hạn chế trong các văn bản luật, trên thế giới mọi công ty đều có thể tùy ý lựa chọn phương pháp và nguyên tắc kế toán mà họ nghĩ là phù hợp để áp dụng tại đơn vị. Ngay sau Đại Suy Thoái, để sửa chữa sai lầm, các nước theo mô hình kế toán Anh – Hoa Kỳ bắt đầu thành lập Ủy ban (Committee) hoặc Hội đồng (Board) các kế toán viên chuyên nghiệp chịu trách nhiệm đưa ra các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi để áp dụng trong phạm vi quốc gia ). Các nước theo Mô hình kế toán Lục địa hoặc Nam Mỹ tiến hành sửa đổi luật công ty, yêu cầu các doanh nghiệp phải tuân thủ theo nhiều điều khoản kế toán khác nhau và buộc phải lập các báo cáo tài chính. Việc nhiều nước có được nguyên tắc được chấp nhận, hoặc chuẩn mực kế toán tài chính của riêng mình đã giúp nâng cao đáng kể tính có thể so sánh được của thông tin do báo cáo tài chính cung cấp trong phạm vi lãnh thổ.
Tuy nhiên, khi vượt ra khỏi biên giới thì thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty tại các nước trên thế giới lại khó có thể so sánh với nhau. Điều này gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn các nhà đầu tư, chủ nợ. Dưới góc độ doanh nghiệp, chi phí lập báo cáo tài chính sẽ gia tăng khi cần thu hút vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, đối với các công ty đa quốc gia, việc lập, hợp nhất, kiểm toán, giải thích báo cáo tài chính sẽ làm phát sinh một khoản chi đáng kể.
Dưới góc độ các nhà đầu tư, người cho vay…, khi đọc báo cáo tài chính của công ty đến từ nước khác, chi phí để phân tích sẽ tăng lên, và nhầm lẫn là điều khó tránh khỏi. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tiến trình hòa hợp – hội tụ chuẩn mực kế toán trên phạm vi toàn cầu ngày càng phát triển mạnh mẽ. Định nghĩa và phân loại kế toán 1. Định nghĩa về kế toán Ở mỗi giai đoạn, nhận thức của con người về bản chất và nội dung của kế toán có sự thay đổi: thời kỳ kế toán còn phôi thai, người ta quan niệm kế toán là một đường lối tính toán và ghi chép những giao dịch liên quan đến tiền bạc của các cá nhân hay tổ chức để theo dõi từng diễn biến của các giao dịch ấy; thời kỳ kinh tế phát triển, kế toán được định nghĩa như một nghệ thuật ghi chép, phân tích và tổng kết những giao dịch thương mại để giúp các nhà quản lý nhận định được tình hình hình hoạt động của đơn 3 Downloaded by Tâm Nguy?n Hoàng (ntam45599@gmail.com) lOMoARcPSD|18505526 vị từ đó có những quyết định đúng đắn; gần đây, kế toán thường được gọi là “ngôn ngữ kinh doanh”, việc hiểu và nắm rõ các thuật ngữ cũng như các khái niệm, nguyên tắc kế toán trở nên cần thiết cho mọi đối tượng muốn tham gia vào thế giới kinh doanh.
Vai trò của thông tin do kế toán cung cấp đối với các đối tượng này có th ể được trình bày như hình 1. Tại Việt Nam, định nghĩa kế toán cũng thay đổi theo quá trình phát triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, kế toán chủ yếu nhằm cung cấp thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, thời gian này Điều lệ Tổ chức kế toán Nhà nước định nghĩa kế toán là : “Công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, nhưng chủ yếu là dưới hình thái giá trị để phản ánh và kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của ngân sách nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp”. Khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mục tiêu của kế toán không chỉ cung cấp thông tin cho nhà nước, mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau như ngân hàng, các nhà đầu tư tiềm năng, các nhà cung cấp, khách hàng… nên định nghĩa về kế toán đã thay đổi.