mở đầu này giới thiệu những vấn đề cơ bản của kế toán từ vai trò của kế toán đối yởi quả trình cung cấp thông tin tài chỉnh đến các yêu cầu và nguyên tắc kế toán cơ bản cũng như những cơ hội nghề nghiệp trong kế toán. Sạu khỉ học xong chương này, người học cỏ thể: ~ Giải thích được bản chât và vai trò của kê toán; “ Nhận diện các đôi tượng sử dụng thông tin kê toán; -So sảnh được thông tin kế toán dùng cho quản lý dọanh nghiệp và các đôi tượng bên ngoài doanh nghiệp; Mô tả được quy trình kế toán; - Giải thỉch được các yêu cầu cờ bản đối với kế toán; - Vận dụng được các nguyên tắc kế toán cợ bản; ~ Nhận diện được những cơ hội nghề nghiệp kế toán. Bản chất của kế toán và sử dụng thông tin kế toán LL Bản chất kế toán Xét về bản chất thì kế toán là một hoạt động có chức năng cụng cấp và giải thích các thông tin tàị chính (được cho là)hữu ích trong việc đưa rá các quyết định kinh tế bởi các tổ chức và cá nhân. Các đơn vị kinh doanh, các cơ quan chính phủ, các tổ chửc phi lợi nhuận, các hộ gia đình và kể cả những cá nhân tham gia vào các hoạt đông kinh tế đều cần thông tín phục vụ chó việc raquyết định phân bổ các nguồn lực sẵn có một cách hữu hiệu.
Thông tin thích hộp (có liền quan) là rất cần thiết để đưa rà cảc qúyết định đụng đắn Trong một xã hội phức tạp, những thông tín này đựợc tặo lập và cụng cấp bởi nhiễu lĩnh vực khác nhau. Trong đó, kế toán đã ngày càng phát triển để đáp ứng đựợc nhu ổẩu thông tin của xã hội, giúp người sử dụng thực hiện các quyết định kinh tế. 7 Ke toán là một hệ thống thu thập, ghi nhận và cung cấp thông tin kinh tế của một đơn vị cho các đối tượng có liên quan để ra quyết định, lập các kế hoạch, và kiểm soát các hoạt động của đơn vị. Kế toán có chức năng thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.
Các hệ thống kinh tế thế giới phụ thuộc vào sự minh bạch, tính đáng tin cậy và chính xác của thông tin kể toán, đặc biệt cung cấp bởi các báo cáo tài chính. Chính vì vậy, kế toán từ lâu đã được xem như là ngôn ngữ của kinh doanh, là phương tiện giao tiếp xã hội có vai trò truyền tải thông tin đến nhiều đối tượng sử dụng khác nhau. Thông tin chỉ hữu hiệu khi mà bên nhận hiểu được thông điệp mà bên gửi muốn chuyển tải. Đẻ đạt được điều này, kế toán đã sử dụng ngôn ngữ riêng để giao tiếp những thông tin hữu ích cho các bên có lợỉ ích liên quan đến hoạt động kinh doanh, gôm chủ sở hữu, chủ nợ, nhà quản lý và nhiêu đối tượng khác.
Ngoài nhóm đối tượng này, nhiều bộ phận tác nghiệp khác như luật sư, nhân viên tiếp thị, kỹ sư, hay kiến trúc sư, v. cũng cần thông tin kế toán ở phạm vi và mức độ nhất định. Luật sư của doanh nghiệp thường phải hiểu được ý nghĩa của thông tin kế toán để có thể bảo vệ tốt nhất lợi ích của thân chủ; còn nhân viên tiếp thị phải nhận thức được chi phí gánh chịu của các chiến lược quảng cáo; hay kỹ sư và kiến trúc sư phải xem xét đến dữ liệu chi phí khỉ thiết kế sản phẩm mới, xây dựng các công trình mới, v. Như vậy, kế toán đóng vai trò quan trọng trong xã hội và nếu xét theo nghĩa rộng, mọí người đều ảnh hưởng bởi thông tin kể toán.
Xét trong phạm vi các đơn vị kinh doanh, kế toán cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng về các hoạt động kinh tế và tình trạng của doanh nghiệp (về tài chính, về kết quả hoạt động, khả năng tạo lập và sử dụng tiền). Đắi tượng sử dụng thông tin kế toán Thông tin kế toán được sử dụng bởi nhiều đối tượng khác nhau nhưng có thể chia thành hai nhóm đối tượng, đó là những người sử dụng bên ngoài đơn vị và những người sử dụng bên trong đơn vị. Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài đơn vị bao gồm các tổ chức tín dụng, cổ đông, cơ quan quản lý, kiểm toán, nhà cung cấp và khách hàng, v. Cảc đối tượng này không trực tiếp điều hành dờn vị nêh khả năng tiếp cận thông tin kế toán của đơn vị rất hạn chế.
Trong đó, các nhà đầu tư hiện tại cũng như tiềm năng, và các chủ nợ là những đối tượnậ chính, nhưng thường không thể yêu cầu cảc đơn vị cung cấp thông tỉn trực tiep mà phải dựa vào các báo cáo kế toán để đáp ứng được phần lớn thông tín mà họ cần. Thồng tin phục vụ cho những người dùng bên ngoài khác cũng chủ yếu từ các báo cáo kễ toán được cung cấp ra bên ngoài (mà chủ yếu lả các báo cáo tài 8 chính). Những thông tin này phục vụ cho các đối tượng bên ngoài để thực hiện các quyết định khác nhau. - Các tổ chức tín dụng cho các doanh nghiệp vay tiền và các nguồn lực khác (chủ nợ) sử dụng thông tin kế toán để đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Những thông tin này là cơ sở để đánh giá rủi ro đối với số vốn cho vay và cũng là cơ sở cho việc thực hiện các quyết định cho vay. - Các cổ đông (nhả đầu tư) cũng chính là chủ sở hữu của đơn vị sử dụng các thông tin kế toán để đánh giá mức độ sinh lợi trên vốn đầu tư để quyết định mua thêm cổ phiếu, giữ nguyên, hay bán bớt cổ phiếu. Thông tin để đánh giá khả năng sinh lợi và tình trạng tài chính giúp cho các chủ sở hữu quyết định đầu tư thêm nếu đơn vị kinh doanh tốt; và cũng là cơ sở để các chủ sở hữu có thể yêu cầu đơn vị giải trình nguyên nhân hoặc rút vốn đầu tư trong trường hợp hoạt động đơn vị kém hiệu quả. - Các cơ quan quản lý sử dụng thông tin kế toán cung cấp thông qua các báo cáo tài chính để giám sát hoạt động của đơn vị, tình hình thực hiện nghĩa vụ của đơn vị về thuế, và các mục đích quản lý khảc như khả năng đảm bảo chế độ tiền lương và phúc lợi cho người lao động.
- Các kiểm toán viên độc lập sử dụng thông tin kế toán để kiểm tra liệu rằng các báo cáo tài chính có được lập tuân thù các nguyên tắc kể toán chung được thừa nhận hay không. - Các nhà cung cấp sử dụng thông tin kế toán để đánh giá tinh hình tài chính của đơn vị khách hàng trước khi quyết định chấp nhận bán chịu sản phẩm cho khách hàng. Những thông tin này là cơ sở để đánh giá rủi ro đối với số tiền khách hàng nợ. - Các khách hàng sử dụng các báo cáo tài chính để đánh giá khả năng duy trì hoạt động trong tương lai, thực hiện các cam kết về bảọ hành sần phẩm và các hỗ trợ khác đối với các dòng sản phẩm từ nhà cung cấp.
Cần phải lưu ý rằng đối tượng bên ngoẫi sử dụng thông tin kế toán rất đa dạng, nhưng đối tượng trực tiếp mà các báo cáo của kế toán hướng đển chính là các nhà đầu tư (hiện tại hay tương lai) và các chủ nợ (những người trực tiếp cung cấp nguồn tài chính cho doanh nghiệp) nhằm phục vụ quá trình thực hiện các quyết định tài trợ vốn (đầu tư, cho vay, bán chịu hàng hoá, v. Những đối tượng sử dụng thông tin kế toán này thường cỏ kiến thức hợp lý về các hoạt động kinh doanh và kinh tế để có thể xem xét và phân tích thông tin ở một mức độ nhất định. Các đối tượng bên ngoài còn lại cũng có thể sử dụng thông tin kế toản phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng. Tuy nhiên, thồng tin kế toán trên các báo cáo cung cấp cho những đối tượng bên ngoài thường không ưu tiên hướng đến các nhóm đối tượng này.
9 Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên trong đơn vị là những người làm việc tại đơn vị, gồm giám đốc điều hành, trưởng các phòng ban (giám đốc bộ phận), các bộ phận chức năng, và các bộ phận tác nghiệp khác. Các đôi tượng này trực tiếp quản lý, điều hành, hoặc tư vấn cho các cấp quản trị doanh nghiệp. Nhờ vào vị trí của họ trong quản lý, quản tậ các cấp có quyền truy cập vào thông tin kế toán nội bộ phục vụ cho việc ra quyết định cần thiết để điều hành đơn vị. Các bộ phận này sử dụng các báo cáo nội bộ do các bộ phận kế toán có liên quan cung cấp.
Việc lập và trình bày các báo cáo nội bộ không bắt buộc phải tuân thủ các yêu cầu và nguyên tắc kế toán cơ bản (các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận) vặ được thiết kế riêng biệt phục vụ cho mục đích của những người sử dụng bên trong đơn vị. Thông tin phục vụ cho nhóm đối tượng này rất đa dạng nhằm giúp cho các nhà quản lý ở các cấp quản lý với các vị trí khác nhau trong việc ra quyết định có liên quan cũng như điều hành tác nghiệp. Những thông tin này bao gồm: thông tin về chi phí yà doanh thu dự kiến của một dự án; thông tin phục vụ chọ việc mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh; thông tin phục vụ việc xác định phúc lợi cho người lao động (baọ gồm lương, thưởng, phụ cấp, trợ cấp và các lợi ích khác); thông tin phục vụ cho việc quản trị chi phí, chất lượng sản phẩm, phân phối sản phẩm (đúng, kịp thời, và hiệu quả); thông tin phục vụ cho việc xác định chính sậch bán hàng và hậu mãi (về khách hàng mục tiêu, về giá bán, nhu cầu và thị hiếu khách hàng, về dịch vụ sau khi bấn và bảo hành sản phẩm, v. Những thông tin này giúp cho các nhà quản lý ở nhiều bộ phận khác nhau đưa ra các quyết định phù hợp, đảm bảo cho quá trinh hoạt động của đơnvị.
Nhìn chung, thông tin kế tọán phục vụ cho những người sử dụng bên ứong đơn vị có thể lầ thông tin phi tài chính hoặc thông tin tài chính và thường có mối quan hệ với vị trí quản lý và vai trò của họ đối với đơn vị. Vai trò của thông tin kế toán càng quan trọng hơn đối với các vị trí quản lý cao hơn.