Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại tỉnh Thái Nguyên".
- Tác giả: Nghiên cứu sinh Phạm Thị Nhạn.
- Chuyên ngành: Việt Nam học (Mã số: 9310630.01).
- Cơ sở đào tạo: Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Cán bộ hướng dẫn khoa học: Cán bộ hướng dẫn chính là PGS. Nguyễn Thị Việt Thanh; Cán bộ hướng dẫn phụ là TS. Vũ Kim Chi.
- Năm hoàn thành: 2024.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Du lịch cộng đồng là phương thức tiếp cận tổ chức hoạt động du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địa phương, khởi nguồn từ những năm 1970 với mục tiêu trao quyền cho cộng đồng theo đuổi công bằng xã hội và tính bền vững (Abdul Razzaq và cộng sự, 2012). Loại hình này thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội do cộng đồng dẫn dắt, xóa đói giảm nghèo, chuyển giao của cải và tài nguyên, đồng thời tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ (Ben Aissa và Goaied, 2017). Trong phát triển du lịch cộng đồng, sự tham gia của người dân thể hiện ở hai khía cạnh: tham gia vào quá trình ra quyết định và tham gia tạo ra, chia sẻ lợi ích du lịch (Mensah, 2017).
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước chỉ ra rằng nguyên nhân dẫn đến hạn chế của du lịch cộng đồng liên quan trực tiếp đến nguồn nhân lực, cụ thể là sự thiếu hụt năng lực chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm thực hành; lao động tại nhiều địa phương phần lớn chưa qua đào tạo (Dłużewska, 2019; World Bank, 2018; Phạm Văn Lợi, 2021; WWF Vietnam, 2023).
Tại tỉnh Thái Nguyên, địa phương có vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng núi phía Bắc, tài nguyên văn hóa và lịch sử phong phú tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch cộng đồng. Giai đoạn 2016-2019, lượng khách du lịch quốc tế đến Thái Nguyên tăng trưởng 6%/năm, khách nội địa tăng 15%/năm. Năm 2019, toàn tỉnh đón 2,9 triệu lượt khách (khách nội địa đạt 2,7 triệu lượt, chiếm 97,4%; khách quốc tế đạt 75.300 lượt, chiếm 2,6%), tốc độ tăng trưởng thu nhập dịch vụ du lịch giai đoạn 2013-2019 đạt 13,9%/năm (Báo Thái Nguyên điện tử, 2021). Dù vậy, hoạt động du lịch cộng đồng tại Thái Nguyên còn mang tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp; cơ sở vật chất phục vụ du lịch còn thiếu; trình độ nhân lực còn hạn chế; sự liên kết giữa các hộ dân chưa chặt chẽ (Thành Chung, 2023).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Tại Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng, cũng như chưa phân tích tác động của các yếu tố giới, định kiến giới, phong tục tập quán địa phương, không gian kinh tế, văn hóa, lịch sử và địa lý đến năng lực và sự tham gia của nguồn nhân lực nữ.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu lý luận: Góp phần lấp khoảng trống nghiên cứu lý thuyết liên quan đến nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng, tập trung vào vai trò, năng lực, sự tham gia và các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ dưới góc độ Việt Nam học.
- Mục tiêu thực tiễn: Kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn Thái Nguyên; đề xuất các hàm ý chính sách cụ thể nhằm gia tăng vai trò, mức độ tham gia và năng lực của nguồn nhân lực nữ.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực nữ trong hoạt động du lịch cộng đồng, đề xuất khung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ dưới góc độ Việt Nam học; khảo sát địa bàn nghiên cứu để thiết kế phương pháp và công cụ thu thập dữ liệu phù hợp.
- Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực nữ trong hoạt động du lịch cộng đồng tại một số điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu ở Thái Nguyên, tập trung điều tra nhận định của cộng đồng về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ.
- Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực nữ trong hoạt động du lịch cộng đồng theo các chiều cạnh: vai trò, năng lực và mức độ tham gia các hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu.
- Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong hoạt động du lịch cộng đồng dưới góc độ Việt Nam học.
- Đề xuất các hàm ý chính sách để nâng cao năng lực và sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Nguồn nhân lực nữ có vai trò gì trong hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu?
- Hiện trạng năng lực và sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi nội dung: Thực trạng vai trò, năng lực, mức độ tham gia và các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng.
- Phạm vi không gian: Tỉnh Thái Nguyên, tập trung tại 9 điểm du lịch cộng đồng đại diện cho 9 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố:
- Xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên;
- Xóm Tân Sơn, xã La Bằng, huyện Đại Từ;
- Xóm Đồng Tâm, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương;
- Hồ Suối Lạnh, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên;
- Làng Phương Độ, xã Xuân Phương, huyện Phú Bình;
- Bản Tèn, xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ;
- Hồ Ghềnh Chè, xóm Ghềnh Chè, xã Bình Sơn, thành phố Sông Công;
- Xóm Mỏ Gà, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai;
- Xóm Khuôn Tát, xã Phú Đình, huyện Định Hóa.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2019-2022, cập nhật năm 2023. Khảo sát thực địa tiến hành từ tháng 2/2020 đến tháng 8/2022; trong đó khảo sát trực tuyến diễn ra từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2021, khảo sát trực tiếp diễn ra từ tháng 4/2022 đến tháng 8/2023.
- Khách thể nghiên cứu và quy mô mẫu:
- Lao động nữ trực tiếp tham gia du lịch cộng đồng tại 9 điểm nghiên cứu: 657 người (trên tổng số 700 phiếu phát ra).
- Chuyên gia trong lĩnh vực du lịch cộng đồng: 49 người (trên tổng số 50 phiếu phát ra).
- Phỏng vấn sâu: 16 người, bao gồm 5 cán bộ lãnh đạo địa phương, 5 chuyên gia/giảng viên nghiên cứu về du lịch cộng đồng tại Thái Nguyên, 3 chủ doanh nghiệp du lịch và 3 người dân tại các điểm du lịch cộng đồng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo 4 nhóm chủ đề chính:
1. Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam
Các nghiên cứu tập trung đánh giá tiềm năng tài nguyên tự nhiên, văn hóa và thực trạng tổ chức du lịch cộng đồng tại các địa phương:
- Tại Sơn La: Đỗ Thúy Mùi (2015) nghiên cứu tiềm năng, hạ tầng và đào tạo nhân lực tại tỉnh Sơn La; Phạm Thị Cẩm Vân (2017) và Phạm Thị Cẩm Vân, Nguyễn Thắm Thu Hà (2017) nghiên cứu thực trạng tham gia còn thụ động của các tộc người tại xã Tân Lập, huyện Mộc Châu; Đỗ Tuyết Ngân, Dương Minh Cường (2017) phân tích hạn chế về vốn, quản lý và nhân lực tại bản Áng 2, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu; Hoàng Thị Hảo (2021) nghiên cứu rào cản đầu tư và năng lực tại huyện Sốp Cộp.
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Vũ Văn Hà, Đào Huy Khuê, Ngô Thị Minh, Đặng Minh Tuấn (2018) nghiên cứu xóm Hoài Khao của người Dao Tiền ở Cao Bằng; Hoàng Thị Phương Nga, Nguyễn Hồng Vân (2019) nghiên cứu sinh kế người Lự tại bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; Hoàng Thị Trang, Nguyễn Mai Chinh (2019) nghiên cứu bảo tồn truyền thống dân tộc thiểu số tại Tuyên Quang; Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Thảo Nguyên (2020) nghiên cứu mô hình làng Nặm Đăm, huyện Quản Bạ, Hà Giang; Nguyễn Quang Hợp (2020) và Lê Văn Thơi (2021) phân tích cơ hội, thách thức và giải pháp quy hoạch du lịch cộng đồng tại Hà Giang; Hà Anh Tuấn, Cao Thị Thu Trà (2021) nghiên cứu tại Mai Châu, Hòa Bình; Nguyễn Thị Thanh Quý (2021) khảo sát thực trạng tự phát tại Quảng Ninh.
- Các khu vực khác: Đào Ngọc Cảnh, Ngô Thị Ái Thi (2018) nghiên cứu du lịch cộng đồng của người Khmer tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang; Trần Thị Hạnh Nguyên (2019) nghiên cứu các làng nghề tại thành phố Nha Trang; Lê Thị Ngọc Lệ (2020) và Lê Văn Đính (2021) khảo sát mô hình làng du lịch tại tỉnh Quảng Nam; Kim Hương (2021) tổng kết thực trạng khoảng 300 làng bản du lịch cộng đồng trên phạm vi cả nước.
2. Các mô hình du lịch cộng đồng
- Đặng Thị Bích Huệ, Đặng Thị Mai Lan, Nguyễn Quốc Huy (2017) nghiên cứu mô hình du lịch cộng đồng gắn với nông thôn mới tại làng chè Tân Cương, Thái Nguyên.
- Đỗ Thúy Mùi (2018) xây dựng quy trình 6 bước quản lý, vận hành mô hình du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc.
- Tạ Thị Đoàn (2019) nghiên cứu mô hình sinh kế tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Nguyễn Ngọc Thanh, Bùi Quang Tuấn (2019) nghiên cứu chuỗi giá trị du lịch sinh thái gắn với cộng đồng tại Hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Nguyễn Thị Kim Thoa, Bùi Trọng Tiến Bảo (2020) khảo sát 500 mẫu nhằm xây dựng mô hình du lịch cộng đồng trọng điểm tại An Giang.
- Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2020) vận dụng khung sinh kế của Oxfam nghiên cứu cộng đồng Mạ, Xtiêng, Chơ Ro tại khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai.
- Hoàng Thị Thu Hương, Nguyễn Duy Thiệu (2021) nghiên cứu mô hình bảo tàng sinh thái cộng đồng người Mường tại lòng hồ Hòa Bình.
- Các công trình khác của Nguyễn Bảo Châu (2021), Nguyễn Tấn Vinh (2020), Nguyễn Hồng Hà, Chung Thị Hoa Lư (2020).
3. Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng
Các nghiên cứu của Nguyễn Anh Lợi (2019) tại Lâm Bình, Tuyên Quang; Trần Đăng Ninh (2019); Vương Mạnh Toàn (2020); Nguyễn Hồng Hà, Hà Minh Thảo (2020); Nguyễn Đức Khiêm (2021) về người Sán Dìu tại Vĩnh Phúc; Phạm Minh Thắng (2021) tại Bình Liêu, Quảng Ninh; Lê Quang Trực và cộng sự (2021).
4. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng
- Về nguồn nhân lực du lịch cộng đồng: Phạm Văn Lợi (2021) nghiên cứu thực trạng thiếu hụt đào tạo nhân lực; Bùi Cẩm Phượng (2019) nghiên cứu nguồn lực phát triển du lịch tại Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội; Thúy Hằng (2018); Ngọc Sơn (2019) tại Nghĩa Lộ, Yên Bái.
- Tại địa bàn Thái Nguyên: Nghiên cứu của Ngô Thị Huyền Trang, Nguyễn Văn Huy, Bùi Thị Thanh Hương (2017); Đặng Thị Bích Huệ, Đặng Thị Mai Lan, Nguyễn Quốc Huy (2017).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận du lịch cộng đồng dưới góc độ kinh tế, tài nguyên, quy hoạch hoặc mô hình sinh kế chung của cộng đồng cư dân. Vấn đề nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ, chưa được nghiên cứu độc lập và hệ thống. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về:
- Đánh giá năng lực của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng theo khung năng lực chuẩn hóa.
- Xác định và kiểm định mức độ tác động của các yếu tố Động cơ, Cơ hội, Năng lực cùng vai trò điều tiết của Định kiến giới đối với sự tham gia của nguồn nhân lực nữ dưới lăng kính liên ngành Việt Nam học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Tiếp cận nghiên cứu: Vận dụng tiếp cận nghiên cứu liên ngành (Inter-disciplinary research approach), tiếp cận hệ thống (Systematic approach), tiếp cận bình đẳng giới (Gender equality approach) và tiếp cận phát triển bền vững (Sustainable development approach) gắn với khu vực học và Việt Nam học.
- Các khái niệm vận hành do tác giả xác lập:
- Nguồn nhân lực: Là tổng thể số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thái độ tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội huy động để tham gia vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội (kế thừa Schultz, 1972; Milkovich và cộng sự, 1994; Begg và cộng sự, 1995; Bratton và Gold, 2000; World Bank, 2002; Đoàn Văn Khái, 2015).
- Nguồn nhân lực du lịch: Là tổng thể số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thái độ tạo nên năng lực có thể huy động để tham gia vào các hoạt động của ngành du lịch (kế thừa Nguyễn Văn Lưu, 2014, 2016; Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030).
- Nguồn nhân lực nữ: Được hiểu là một bộ phận dân số nữ với kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm, có thể tham gia vào các hoạt động lao động xã hội (kế thừa Lưu Song Hà, 2015; Nguyễn Thị Việt Thanh, 2017; Nguyễn Thị Tố Uyên, 2020; Trần Thị Diệu Linh, 2020).
- Du lịch cộng đồng: Là hoạt động du lịch do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi, mang lại cho du khách những trải nghiệm đầy đủ nhất về bản sắc cộng đồng nhằm đóng góp vào việc nâng cao đời sống của cộng đồng thông qua hỗ trợ cải thiện sinh kế và bảo tồn các tài nguyên văn hóa và tự nhiên của địa phương (kế thừa Nicole Häusler và Wolfgang Strasdas, 2000; ASEAN Secretariat, 2016; Giampiccoli và Saayman, 2016; Bùi Thanh Hương và Nguyễn Đức Hoa Cương, 2007; Luật Du lịch, 2017).
- Khung phân tích và mô hình nghiên cứu:
- Mô hình KSAP (Knowledge - Skill - Attitude - Practice/Kinh nghiệm) đánh giá năng lực nguồn nhân lực du lịch cộng đồng kế thừa từ Mtapuri và cộng sự (2021).
- Mô hình MOA (Motivation - Opportunity - Ability: Động cơ - Cơ hội - Năng lực) dùng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ.
- Biến điều tiết: Định kiến giới tác động lên mối quan hệ giữa các nhân tố MOA và sự tham gia.
- Khung phân tích ma trận SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp định tính:
- Nghiên cứu tài liệu tại bàn thu thập dữ liệu thứ cấp.
- Điền dã liên ngành: quan sát trực tiếp, quan sát có sự tham gia và ghi chép thực địa tại các điểm du lịch cộng đồng.
- Phỏng vấn sâu 16 cá nhân am hiểu (5 lãnh đạo, 5 giảng viên/chuyên gia, 3 chủ doanh nghiệp, 3 người dân).
- Phương pháp phân tích SWOT và phương pháp bản đồ, sơ đồ thể hiện không gian phân hóa du lịch và nhân lực.
- Phương pháp định lượng:
- Điều tra bảng hỏi bán cấu trúc sử dụng thang đo Likert.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ, giá trị trung bình); Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với 64 biến đo lường ban đầu; Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha; Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính bội; Phân tích tác động điều tiết của định kiến giới; Phân tích khoảng cách năng lực (Gap analysis).
Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát
| Đối tượng thu thập dữ liệu |
Công cụ / Phương pháp |
Quy mô mẫu dự kiến |
Quy mô mẫu thực tế |
Mục đích sử dụng |
| Lao động nữ tại 9 điểm du lịch cộng đồng |
Bảng hỏi bán cấu trúc (thang đo Likert) |
700 phiếu |
657 phiếu |
Đánh giá năng lực KSAP, đo lường mức độ tham gia, kiểm định mô hình MOA |
| Chuyên gia trong lĩnh vực du lịch |
Bảng hỏi khảo sát chuyên gia |
50 phiếu |
49 phiếu |
Đánh giá tầm quan trọng của các tiêu chí năng lực, vị trí của nguồn nhân lực nữ |
| Cán bộ quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp, người dân |
Phỏng vấn sâu theo phiếu hướng dẫn |
16 người |
16 người (5 lãnh đạo, 5 chuyên gia, 3 doanh nghiệp, 3 người dân) |
Kiểm chứng kết quả định lượng, phân tích nguyên nhân sâu xa và định hướng chính sách |
| Các sở, ban, ngành, phòng VHTT tại Thái Nguyên |
Thu thập tài liệu, báo cáo thứ cấp |
Giai đoạn 2019-2022, cập nhật 2023 |
Báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu khách, văn bản chính sách |
Phân tích bối cảnh không gian kinh tế, du lịch của địa phương |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan và cơ sở lý luận về nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, du lịch cộng đồng, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực du lịch, nguồn nhân lực nữ và nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng. Tác giả phân tích các đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch: tính đa ngành, tính đa mục tiêu, tính đa thành phần, tính mùa vụ, tính liên vùng và tính xã hội hóa.
Chương này tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích các quan điểm lý thuyết về bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn. Từ đó, chương 1 xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết lập khung phân tích ban đầu cho đề tài luận án.
Chương 2. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày không gian phát triển của tỉnh Thái Nguyên trên các phương diện địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa; phân tích tiềm năng và hiện trạng khách du lịch vùng Trung du miền núi Bắc Bộ năm 2019. Tác giả mô tả chi tiết đặc điểm cơ bản của 9 điểm du lịch cộng đồng khảo sát đại diện cho 9 địa phương cấp huyện/thành phố trên địa bàn tỉnh.
Nội dung phương pháp luận làm rõ quy trình kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng. Tác giả xây dựng mô hình đánh giá năng lực nguồn nhân lực nữ dựa trên khung KSAP và mô hình các yếu tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ dựa trên khung MOA tích hợp biến điều tiết định kiến giới. Chương này cũng trình bày chi tiết cấu trúc bảng hỏi, bảng mã hóa dữ liệu, quy trình chọn mẫu khảo sát thực tế (657 lao động nữ, 49 chuyên gia, 16 đối tượng phỏng vấn sâu) và các bước xử lý dữ liệu qua EFA và hồi quy.
Chương 3. Thực trạng vai trò, năng lực của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại Thái Nguyên
Chương 3 công bố kết quả mô tả mẫu khảo sát 657 lao động nữ về độ tuổi, học vấn, ngành nghề chính trước khi tham gia du lịch cộng đồng và các lĩnh vực hoạt động du lịch hiện tại. Tác giả trình bày ý kiến đánh giá của chuyên gia về vị trí và tầm quan trọng của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng.
Chương này trình bày kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) lần 1 từ 64 biến đo lường ban đầu, danh mục các biến số bị loại bỏ sau các vòng phân tích, hệ số tải nhân tố và hệ số Cronbach's Alpha. Tác giả đánh giá năng lực thực tế của nguồn nhân lực nữ theo từng nhóm tiêu chí (Kiến thức, Kỹ năng, Thái độ, Kinh nghiệm), đồng thời phân tích khoảng cách năng lực (Gap analysis) so với yêu cầu tiêu chuẩn thông qua so sánh giữa mức độ quan trọng và mức độ đáp ứng thực tế. Chương này cũng phân tích kết quả EFA đối với biến định kiến giới.
Chương 4. Các yếu tố tác động đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại Thái Nguyên
Chương 4 đánh giá mức độ tham gia thực tế của nguồn nhân lực nữ vào các khâu của chuỗi hoạt động du lịch cộng đồng tại địa phương. Tác giả trình bày mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau EFA và kết quả phân tích hồi quy tương quan kiểm định tác động của các nhóm nhân tố: Động cơ, Cơ hội (Cơ sở hạ tầng, Tài nguyên du lịch, Chính sách hỗ trợ) và Năng lực đến mức độ tham gia của nguồn nhân lực nữ.
Chương này kiểm định tác động điều tiết của định kiến giới đối với mối quan hệ giữa các yếu tố tác động và mức độ tham gia, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đặt ra. Đồng thời, tác giả tổng hợp 826 ý kiến khảo sát của phụ nữ về các rào cản, khó khăn cụ thể khi tham gia hoạt động du lịch cộng đồng; tổng hợp ý kiến đề xuất của người lao động; phân tích kết quả phỏng vấn sâu 16 bên liên quan và xây dựng ma trận phân tích Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức (SWOT).
Chương 5. Hàm ý chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng
Chương 5 phân tích các căn cứ đề xuất giải pháp, bao gồm quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, phát triển du lịch, mục tiêu bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và phát triển bền vững.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở các chương trước, tác giả đề xuất 4 nhóm hàm ý chính sách cụ thể:
- Nhóm hàm ý chính sách nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng (tập trung giải quyết các khoảng trống về kiến thức chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ du lịch và ngoại ngữ).
- Nhóm hàm ý chính sách phát triển cơ sở hạ tầng và tài nguyên du lịch (nâng cấp mạng lưới giao thông, hạ tầng viễn thông/Internet, nguồn nước sạch, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự tại các điểm đến).
- Nhóm hàm ý chính sách phát triển tổ chức du lịch cộng đồng (hoàn thiện cơ chế liên kết cộng đồng, hợp tác xã, xúc tiến quảng bá và xây dựng sản phẩm đặc thù).
- Nhóm hàm ý chính sách giải quyết các khó khăn, rào cản đặc thù của nguồn nhân lực nữ trong hoạt động du lịch cộng đồng (hỗ trợ tiếp cận vốn tín dụng chính sách, giảm tải gánh nặng việc nhà, thay đổi định kiến giới).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Bổ sung các thành tố thuộc năng lực cá nhân của nguồn nhân lực nữ vào mô hình đánh giá năng lực KSAP trong du lịch cộng đồng, bao gồm: tinh thần cầu tiến, vượt khó, dấn thân; tính cách mạnh mẽ, quyết đoán; tính cách vui vẻ, vô tư; quan điểm phụ nữ nên tham gia làm du lịch cộng đồng; tính hòa đồng và thích giao lưu; thái độ niềm nở, trách nhiệm, hiếu khách.
- Bổ sung và kiểm định các yếu tố tác động đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng trong mô hình MOA mở rộng, gồm:
- Điều kiện cơ sở hạ tầng: sóng di động mạnh, mạng Internet mạnh, nguồn nước sạch phục vụ du lịch, giao thông thuận tiện đến bản/xóm, an ninh tốt.
- Nguồn tài nguyên du lịch: danh thắng đẹp, khu di tích lịch sử, điều kiện khí hậu, văn hóa địa phương hấp dẫn.
- Chính sách hỗ trợ: chính sách phát triển du lịch cộng đồng, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, chính sách tín dụng, các dự án triển khai tại địa phương.
- Động cơ tham gia: phát triển kinh tế bản thân/gia đình, phát triển kinh tế cộng đồng, tạo thị trường mới cho nông sản, đa dạng hóa kinh tế địa phương, xây dựng nông thôn mới.
- Bổ sung kiểm định tác động điều tiết của định kiến giới đối với mối quan hệ giữa các yếu tố Động cơ - Cơ hội - Năng lực và mức độ tham gia của phụ nữ.
- Hoàn thiện phương pháp tiếp cận liên ngành Việt Nam học trong nghiên cứu nguồn nhân lực du lịch, làm rõ quy trình vận dụng kết hợp mô hình định lượng KSAP và MOA với các phương pháp định tính điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Kiểm định độ tin cậy và giá trị khoa học của mô hình KSAP và MOA điều chỉnh trên mẫu khảo sát thực địa diện rộng gồm 657 lao động nữ và 49 chuyên gia tại 9 điểm du lịch cộng đồng thuộc 9 huyện/thành phố của tỉnh Thái Nguyên.
- Xác lập bức tranh thực trạng về năng lực và khoảng cách năng lực thực tế của lao động nữ trong du lịch cộng đồng; chỉ rõ các rào cản từ định kiến giới, hạ tầng kỹ thuật và chính sách hỗ trợ tại địa phương.
- Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các cấp chính quyền tỉnh Thái Nguyên, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Liên hiệp Phụ nữ và các địa phương cụ thể hóa chính sách đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ vốn và tổ chức quản lý du lịch cộng đồng bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại 9 điểm du lịch cộng đồng đại diện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, mang tính chất đặc thù của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ.
- Dữ liệu thứ cấp tập trung trong giai đoạn 2019-2022 (cập nhật 2023); dữ liệu sơ cấp được thu thập trong điều kiện có sự kết hợp khảo sát trực tuyến (giai đoạn giãn cách dịch bệnh năm 2021) và khảo sát trực tiếp (2022-2023).
- Khách thể khảo sát giới hạn ở các lao động nữ đang trực tiếp tham gia hoạt động tại các điểm du lịch đã hình thành mô hình, chưa khảo sát sâu nhóm phụ nữ chưa tham gia du lịch tại cùng địa bàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi kiểm định mô hình KSAP và MOA điều chỉnh sang các vùng sinh thái - văn hóa khác trên cả nước (đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Tây Bắc) để so sánh các đặc thù về tộc người và phong tục tập quán.
- Đi sâu nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và kinh tế số đối với năng lực ứng dụng công nghệ của phụ nữ trong quảng bá, kinh doanh du lịch cộng đồng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các ngành Việt Nam học, Du lịch học, Quản lý văn hóa, Xã hội học, Giới và Phát triển. Cung cấp quy trình phương pháp luận liên ngành kết hợp thang đo định lượng KSAP, MOA và phân tích định tính điền dã.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội: Cung cấp số liệu thực chứng và cơ sở thực tiễn cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, UBND các huyện, thành phố và Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp trong việc xây dựng đề án phát triển du lịch nông thôn, kế hoạch đào tạo nghề du lịch và chính sách thúc đẩy bình đẳng giới.
- Đối với doanh nghiệp lữ hành, hợp tác xã và cộng đồng địa phương: Cung cấp thông tin phân tích về khoảng cách năng lực của lao động địa phương, phục vụ công tác tuyển dụng, đào tạo kỹ năng phục vụ, xây dựng sản phẩm trải nghiệm và liên kết chuỗi giá trị du lịch cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực địa tại những điểm du lịch cộng đồng cụ thể nào ở Thái Nguyên?
Luận án khảo sát tại 9 điểm du lịch cộng đồng đại diện cho 9 huyện, thành phố của tỉnh Thái Nguyên:
- Xóm Hồng Thái 2 (xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên);
- Xóm Tân Sơn (xã La Bằng, huyện Đại Từ);
- Xóm Đồng Tâm (xã Tức Tranh, huyện Phú Lương);
- Hồ Suối Lạnh (xã Thành Công, thành phố Phổ Yên);
- Làng Phương Độ (xã Xuân Phương, huyện Phú Bình);
- Bản Tèn (xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ);
- Hồ Ghềnh Chè (xã Bình Sơn, thành phố Sông Công);
- Xóm Mỏ Gà (xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai);
- Xóm Khuôn Tát (xã Phú Đình, huyện Định Hóa).
2. Quy mô mẫu và các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp của luận án được triển khai ra sao?
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 2/2020 đến tháng 8/2023 qua 3 kênh chính:
- Điều tra bảng hỏi Likert với lao động nữ: phát ra 700 phiếu, thu về và xử lý 657 phiếu hợp lệ tại 9 điểm du lịch cộng đồng.
- Điều tra bảng hỏi với chuyên gia: phát ra 50 phiếu, thu về 49 phiếu chuyên gia du lịch cộng đồng.
- Phỏng vấn sâu định tính: 16 người (5 lãnh đạo địa phương, 5 chuyên gia/giảng viên du lịch, 3 chủ doanh nghiệp, 3 người dân).
3. Mô hình KSAP trong luận án được phát triển và bổ sung những thành tố nào?
Kế thừa mô hình KSAP (Knowledge - Skill - Attitude - Practice) của Mtapuri và cộng sự (2021), tác giả bổ sung các tiêu chí đo lường năng lực cá nhân của lao động nữ: tinh thần cầu tiến, vượt khó, dấn thân; tính cách mạnh mẽ, quyết đoán; tính cách vui vẻ, vô tư; quan điểm ủng hộ phụ nữ làm du lịch cộng đồng; tính hòa đồng, thích giao lưu; thái độ niềm nở, trách nhiệm, hiếu khách.
4. Luận án xác định các yếu tố nào tác động đến sự tham gia của nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng?
Dựa trên mô hình MOA, luận án xác định các nhóm yếu tố tác động:
- Cơ hội: Cơ sở hạ tầng (sóng viễn thông, Internet, nước sạch, giao thông, an ninh); Tài nguyên du lịch (cảnh quan, di tích, khí hậu, văn hóa); Chính sách hỗ trợ (chính sách du lịch cộng đồng, đào tạo, tín dụng, dự án hỗ trợ).
- Động cơ: Kinh tế cá nhân/gia đình, kinh tế cộng đồng, thị trường sản phẩm địa phương, đa dạng hóa kinh tế, xây dựng nông thôn mới.
- Năng lực: Năng lực theo khung KSAP mở rộng.
- Tác động điều tiết: Định kiến giới tác động lên mối quan hệ giữa MOA và mức độ tham gia.
5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp chính nào trong chương 5?
Tác giả đề xuất 4 nhóm hàm ý chính sách: (1) Nhóm hàm ý chính sách nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực nữ theo khoảng cách KSAP; (2) Nhóm hàm ý chính sách phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tài nguyên du lịch; (3) Nhóm hàm ý chính sách phát triển tổ chức du lịch cộng đồng; (4) Nhóm hàm ý chính sách tháo gỡ khó khăn, rào cản đặc thù và định kiến giới đối với nguồn nhân lực nữ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Nguồn nhân lực nữ trong du lịch cộng đồng tại tỉnh Thái Nguyên" của nghiên cứu sinh Phạm Thị Nhạn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò, năng lực và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong du lịch cộng đồng dưới góc độ Việt Nam học. Luận án đã tích hợp thành công mô hình năng lực KSAP và mô hình MOA có xét đến biến điều tiết định kiến giới, được kiểm định thực nghiệm trên mẫu khảo sát 657 lao động nữ và 49 chuyên gia tại 9 điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Các kết quả phân tích khoảng cách năng lực, thực trạng tham gia và ma trận SWOT đã cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để đề xuất hệ thống hàm ý chính sách toàn diện, phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo nhân lực, quản lý du lịch cộng đồng và thúc đẩy bình đẳng giới tại địa phương.